fbpx

Chuyện về 3 dinh thự của Bảo Đại từng được bảo vệ bằng pháo đài bất khả chiến bại

Đăng lúc: 4:46 23/02/2019 -

3 dinh thự bị tấn công

Ở Đà Lạt, cựu hoàng Bảo Đại có ba dinh thự được gọi tên lần lượt là Dinh I, Dinh II và Dinh III. Dinh I từng được Bảo Đại dùng làm Tổng hành dinh của Hoàng Triều cương thổ. Dinh II dành cho các quan chức nghỉ dưỡng vào mùa hè. Còn Dinh III, Bảo Đại dùng làm Dinh Quốc trưởng và thư phòng cho gia đình. Sau này, cả ba dinh thự trên được đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Phủ Thủ tướng Sài Gòn. Trong đó, Dinh I dùng để tiếp đón khách ngoại giao nên còn gọi là Dinh quốc khách (hoặc Biệt điện Bách Hoa).

Dinh II và III dành cho các quan chức cấp cao của Sài Gòn mỗi khi lên Đà Lạt kinh lý hay nghỉ mát ở lại. Do tính chất quan trọng của mỗi dinh nên lực lượng bảo vệ an ninh ở đây được đặt trong tình trạng rất nghiêm ngặt.

Kế hoạch xây dựng pháo đài phòng thủ Dinh quốc khánh

Vòng trong của dinh được giao cho ba tiểu đội thuộc Liên đoàn an ninh danh dự Phủ thủ tướng. An ninh bên ngoài dinh được giao cho tiểu khu Tuyên Đức đảm trách, mỗi dinh cắt cử một trung đội luân phiên canh gác, tuần tra. Riêng Dinh Quốc khách, vì nằm cạnh trụ sở của Trung tâm Truyền tin nên đêm đến trung tâm này đã tăng cường thêm một số binh sỹ canh gác nhằm giữ cho khu vực được an toàn tuyệt đối. Bởi lẽ Dinh Quốc khách nằm trên một cao điểm nếu bị chiếm giữ sẽ là bàn đạp rất thuận lợi để tấn công sang trụ sở Trung tâm Truyền tin.

Đêm giao thừa Tết Mậu Thân, các tỉnh lỵ, thành phố lớn ở Miền Nam bất ngờ bị quân giải phóng đồng loạt tấn công. Ba dinh thự của cựu hoàng Bảo Đại ở xứ sở sương mù cũng hứng chịu nhiều loạt đạn pháo. Đêm diễn ra cuộc giao tranh đến 2 giờ khuya, Dinh Quốc khách bị chiếm giữ nhiều giờ nên có phần hư hại nặng nhất. Dinh II cũng bị quân giải phóng xâm nhập vào sân bay trực thăng sau khi dinh này bị trúng hai quả đạn pháo P.40.

Tiểu khu Tuyên Đức ngay sau đó phái đến một trung đội dưới quyền chỉ huy của đại uý Trưởng Ty an ninh quân đội để vừa bảo vệ Dinh II, vừa bảo vệ Trung tâm Truyền tin bên cạnh. Đồng thời, tiểu khu Tuyên Đức tăng cường cho mỗi dinh thêm 6 binh sĩ, một trung liên, một máy truyền tin, 50 lựu đạn và 3 hoả lực đạn cho mỗi đơn vị súng… Ngoài nhiệm vụ ban đêm canh gác, lực lượng tăng phái này ban ngày còn có nhiệm vụ tuần tra các vùng đất thuộc quyền Dinh quản lý để ngăn chặn đồng bào hạ cây lấy gỗ hoặc chiếm đất dựng nhà bất hợp pháp.

Bảo vệ Dinh Quốc khách bằng pháo đài

Sau biến cố Mậu Thân, theo nhận định của Ty an ninh Tuyên Đức, vùng đất này kể từ nay đã thiếu an ninh nghiêm trọng, mà tiểu khu Tuyên Đức lại không có thừa lính để tăng cường bảo vệ an ninh cho các dinh thự của Phủ thủ tướng. Trong khi đó, chung quanh Đà Lạt có địa thế rất hiểm trở, đồi núi tiếp giáp với rừng cây rậm rạp, cùng những ghềnh thác và sơn đảo tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển quân và trú ẩn từ hai phía.

Đồng thời gây khó khăn cũng như làm giảm hiệu năng quan sát và yểm trợ của không quân. Dân số Đà Lạt lúc bấy giờ đa số là người Việt gốc Hoa sống tập trung tại thị xã bằng nghề thương mại. Vùng ven thị xã phần đông là người miền Nam sinh sống bằng nghề làm rẫy, thành phần này có nhiều người theo cách mạng.

Sơ đồ dinh phòng thủ

Chính quyền qua các thời kỳ vẫn xem Đà Lạt là đô thị quan trọng thứ hai sau Sài Gòn về phương diện quân sự và chính trị. Vì nơi đây là một trung tâm du lịch thu hút rất đông người ngoại quốc đến thăm viếng, trú ngụ, và cũng là nơi tập trung nhiều quân trường lớn. Do đó mọi biến cố xảy ra ở đây không thuần tuý giao tranh quân sự mà còn gây ảnh hưởng chính trị đến tầm vóc quốc tế.

Cũng vào thời điểm trên, trong một bản báo cáo được gọi là “kế hoạch A tình báo” của trung tá Trần Như Phong, tiểu khu phó Tuyên Đức cho thấy vùng này thường xuyên chịu áp lực lớn từ phía quân giải phóng thường trực của thị đội, thị uỷ Đà Lạt, tiểu đoàn 810, trung đội 850, trung đội 860, du kích địa phương… Tất cả được trang bị vũ khí cá nhân và đạn dược đầy đủ. Bản báo cáo còn đưa ra nhiều giả thiết về các hướng tấn công của quân giải phóng vào Dinh Quốc khách.

Ngay sau khi bản báo cáo trên được gửi về “phủ đầu rồng”, Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia đã vội tăng phái dài hạn cho một đại đội Cảnh sát dã chiến, thuộc biệt đoàn 222 đến canh giữ Dinh Quốc khách. Cùng lúc, giao phó cho một tiểu đoàn Địa phương quân của tiểu khu Tuyên Đức đảm trách chiếm giữ các cao điểm và trận địa pháo bên ngoài dinh khoảng 200 mét nhằm ngăn ngừa đối phương xâm nhập hoặc pháo kích. Cùng lúc hệ thống kẽm gai phòng thủ của cả ba dinh thự cũng được cho dời xuống triền đồi và củng cố 100%, trong đó có pháo đài dã chiến và hệ thống chiếu sáng do Cục công binh thiết lập.

Trong thực tế, Dinh Quốc khách chỉ được thắt chặt và tăng cường an ninh khi có các phái đoàn ngoại quốc đến lưu trú. Khi đó, an ninh được thắt chặt bằng nhiều vòng đai theo chiều sâu từ trung tâm dinh đến vùng ven biên thị xã Đà Lạt có ít nhất là ba vòng. An ninh phòng thủ nội vi trong khuôn viên dinh được giao cho ba đại đội Cảnh sát dã chiến và hai xe bọc thép M.100 đặt trong tình trạng sẵn sàng tác xạ. An ninh gần giao cho một đại đội Địa phương quân trấn giữ cách vòng rào dinh 500m trở ra.

Hai đại đội Địa phương quân khác đảm trách an ninh khu vực ven biên Đà Lạt nhằm lục soát kỹ lưỡng và cho chiếm các cao địa nơi nghi ngờ đối phương có thể đặt súng pháo kích vào khu vực nội dinh. Ngoài ra còn có một trung đội pháo binh yểm trợ trực tiếp cho các đơn vị an ninh thực hiện tác xạ khi có tin tức đối phương xuất hiện. Cùng lúc tại phi trường Cam Ly, hai trực thăng võ trang túc trực sẵn sàng khi có yêu cầu.

Riêng phạm vi công ốc trong nội dinh được phân định thành hai khu vực chính. Khu A là nơi lưu trú của phái đoàn quốc khách. Khu này có bảy nhà phụ thuộc: nhà xe, nhà chờ ở sân trực thăng, nhà binh sĩ, văn phòng, chuồng súc vật, nhà canh gác và nhà truyền tin. Khu B có tất cả 15 nhà, dùng làm nơi lưu trú của lực lượng cận vệ và Ban chỉ huy trung tâm huấn luyện nhân dân tự vệ Đà Lạt và Tuyên Đức.

Kể từ sau ngày Cựu hoàng Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm truất phế, cho đến biến cố Tết Mậu Thân thì công tác chỉnh trang Dinh Quốc khách mới được thực hiện, trong đó vấn đề phòng thủ mới được đặt ra và khẩn trương xúc tiến. Chính quyền cho phá dỡ hết kẽm gai và hệ thống công sự phòng thủ ở khu A để nới rộng vành đai phòng thủ xuống sườn đồi bên ngoài và các con đường chạy quanh dinh.

Trước khi thiết lập mới một lô cốt phía trước và hai lô cốt kiên cố bên hông dinh bằng vật liệu nặng, nơi đây vốn là bãi mìn dài 1.200m, rộng 6m, được thiết lập vào giai đoạn đầu của chính quyền Ngô Đình Diệm. Để phá huỷ bãi mìn này phải cần đến 100 kg TNT, 200 kíp nổ điện, 160 ngòi nổ hoả công… được giao cho đại đội 203D, thuộc tiểu khu Tuyên Đức thực hiện.

Ngay sau giải toả bãi mìn, Cục công binh tiến hành xây dựng hai pháo đài phòng thủ chính (có 9 vọng pháo) bằng sắt 18 ly nằm ở phía Nam và một pháo đài dã chiến nằm ở giữa. Cùng lúc Cục công binh cho thực hiện 7 chòi canh bằng vật liệu nhẹ dọc theo đại lộ Trần Hưng Đạo và một điểm canh ở cổng chính.

Ngoài ra, xung quanh Dinh Quốc khách được lắp đặt mới hệ thống đèn chiếu sáng 300W bằng máy phát điện 60KVA. Tất cả vật liệu, trang cụ, thiết bị được không vận bằng máy bay quân sự từ kho Long Bình lên Đà Lạt để lắp đặt, phòng vệ nội dinh.

Kể từ thời điểm đó, an ninh Dinh Quốc khách được giao cho biệt đoàn 222, Cảnh sát dã chiến đảm nhiệm. Quân số đặc trách ở dinh vào khoảng 90 binh sĩ, dưới quyền chỉ huy của đại uý Trương Minh Long.

Ngoài ra còn có thêm đại đội 4 trú đóng tại dãy nhà tạm phía sau dinh làm lực lượng trừ bị, cùng một trung đội của đơn vị này phụ trách khu vực Đông Bắc, hàng ngày luân phiên tăng phái canh gác cho hai dinh còn lại đến tận ngày giải phóng miền Nam.

Dinh Quốc khách là một công trình kiến trúc độc đáo, cổ kính, nhưng mãi đến tận vài năm gần đây, dinh này mới được tu sửa lại và đưa vào khai thác du lịch.

Bình luận