Đào mồ, tôn vinh tấm khố 2.400 tuổi của Chử Đồng Tử

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 6:11 08/06/2020 |

“Bắt đầu báo chí có rộ lên “Khố Chử Đồng Tử” là dịp chị Nguyễn Thị Xuân Mỹ – Chủ tịch của Hội Bảo trợ Trẻ mồ côi và Người tàn tật Việt Nam có mời tôi tham dự buổi lễ ra mắt và quyên góp tiền cho các hoạt động nhân đạo. Lúc ấy chúng tôi cũng không có tiền, tôi đề nghị là “em có sản phẩm mới là một miếng vải mà ta có thể gọi nó là cái vải thời Chử Đồng Tử hoặc là ta gọi là cái khố của Ngài”,Tiến sỹ Nguyễn Văn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á kể.

khố chử đồng tử 2
Các miếng vải hàng nghìn năm tuổi đã nói lên nhiều điều về văn hóa lịch sử dân tộc

Từ chiếc khố Chử Đồng Tử trong truyền thuyết

Như chúng ta đã biết, truyền thuyết về ông Chử Đồng Tử, một trong Tứ Bất Tử của Tâm thức dân gian Việt Nam, được ghi trong “Lĩnh Nam chích quái” với tên gọi Nhất Dạ Trạch (đầm một đêm). Đây là một trong những truyền thuyết sớm nhất được ghi chép trong tác phẩm nổi tiếng, mang tính huyền sử, kể về những câu chuyện thần thoại thời kì cổ xưa của nước Việt Nam ta.

Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha tại thôn Chử Xá, xã Văn Đức (nay thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc khố, cha con Chử Đồng Tử phải thay nhau mà mặc.

Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.

Thời ấy, Hùng vương thứ 18, có cô con gái tên là Tiên Dung, đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của Tiên Dung đến thăm vùng Chử Xá. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh.

Khố Chử Đồng Tử
Vải thời Đông Sơn

Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.

Một hôm, qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Viên sơn, Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi gặp một tăng sĩ tên Phật Quang và được truyền dạy phép thuật. Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.

Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng, văn võ bá quan lẫn tiên đồng ngọc nữ đều sẵn sàng để hầu hạ. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dâng hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.

Nghe tin, Hùng vương cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung-Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn

Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên. Sau này, vợ chồng Chử Đồng Tử – Tiên Dung còn “hiển linh” giúp dân, giúp nước rất nhiều.

“Công nghệ mới” với các túi bùn bị vứt bỏ khi khai quật mồ mả

khố chử đồng tử
Mộ thuyền thời Đông Sơn đã được công nhận là bảo vật quốc gia, kho di sản dưới mộ đã được nghiên cứu, tôn vinh

Khi sang CHLB Đức ở đó liên tục 12 năm, ông Việt đã cùng phía bạn có được một số phát hiện thú vị và nhiều ý nghĩa, như: tìm ra  vết đường cày, vết thuổng của người cổ xưa trong các di chỉ. Tiến tới, ông tham gia với họ để tìm dấu vết, hiện vật là chất liệu vải sợi trong khu vực khai quật cổ xưa.

Bắt đầu vào năm 2000, bà con ở làng Châu Can (huyện Phú Xuyên, Hà Nội) vét mương tìm ra các “mộ thuyền”. Khi đến xem hố khai quật thì ông Việt gặp ôngTrịnh Sinh đang phụ trách khai quật ở đấy, rồi ông Nguyễn Lân Cường cũng tham gia lấy xương.

Ông Sinh bảo: “Việt ơi lâu không khai quật, xuống giúp một tay”. Ông Việt bèn xuống và cùng làm. “Tôi để ý và thắc mắc: sao vải nhiều thế này mà các ông vứt đi? Bởi vì cách đào cũ của Viện Khảo cổ, khi thấy vải gần như biến thành bùn, anh em không có kĩ thuật để tách vải ra. Thế là họ chụp ảnh xong họ vét các cái đó vứt đi. Chỉ lấy xương thôi”, ông Việt kể.

“Tôi xin cái bùn, họ cho. Tôi giữ được khối lượng khoảng đựng đầy một thùng mì ăn liền. Tôi định cất lên ô tô thì dân chúng không cho mang đi. Vì họ thấy thái độ quá trân trọng của tôi thì họ nghĩ rằng đồ ấy quý lắm. Và họ dứt khoát không cho mang đi.

Chúng tôi đành để lại đó. Buổi trưa về xã ăn cơm, xã mời. Quay lại hiện trường thì thấy khối vải và bùn “bỏ đi” kia đã bị chọc chi chít các lỗ. Họ chọc xem có cạch cạch, tức là liệu có vàng hay không thôi, sau khi thấy êm không có thì họ cho mang đi”, ông Việt cho biết.

Và đêm hôm đó về đến Hà Nội thì ông Việt đã thực thi một công việc thú vị: ngâm, tẩy, để rồi sáng sớm hôm sau ông chứng kiến những tấm vải “bay” ra khỏi đống bùn ấy. Ông và cộng sự, nhờ du học, hợp tác với nước ngoài về khảo cổ hiện đại, nên đã có được kĩ năng đặc biệt để lấy được nguyên xi thứ vải của người thời xưa.

“Tôi lấy tên đó là cái khố Chử Đồng Tử vì thực ra cái vị thanh niên đó cao to đẹp lắm. Phải nói, nếu phục hồi được gương mặt cụ ấy thì chắc chắn là rất đẹp. Hơn nữa, cái chỗ Châu Can đó, đứng bên này chỉ cần nhìn qua sông thôi là thấy Đền Chử Đồng Tử. Từ đó cũng lãng mạn một tí, nghĩ rằng Tiên Dung với Chử Đồng Tử là ở loanh quanh đâu đấy thôi”, ông Việt kể.

Vì xưa nay khi nghĩ về thời kì tiền sử Đông Sơn chưa bao giờ chúng ta có được miếng vải thật sự đến từ giai đoạn lịch sử xa xôi hơn hai nghìn năm đó cả. Miếng vải sau khi ngâm, lắc nó tươi như mới. Và hơn nữa nó là một cái hiện tượng thế giới cũng đang quan tâm.

Quan trọng hơn, nó là một vấn đề khoa học thật sự và hết sức thú vị. Bởi vì chúng ta có vải thật vào thời Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử nếu có thật thì nó rơi vào thời kì tại vị của ông vua Hùng Vương thứ 6. Ngôi mộ mà khảo cổ Việt Nam đang đào ấy là vào thế kỉ thứ 4 – Trước Công nguyên. Niên đại trùng nhau.

Từ câu chuyện đó thì mình nói lên cái câu chuyện vải của thời Chử Đồng Tử, khoảng 2.400 năm cách ngày nay. Đó cũng  là giai đoạn rực rỡ của Văn hoá Đông Sơn. Nó rơi vào thời kì mà theo cái trật tự của “Đại Việt sử kí toàn thư” có ghi là: gần cuối của thời Hùng Vương.

Tiến tới, ông Việt đã đăng kí các tài trợ của Nhật Bản để tiếp tục triển khai công trình khoa học thú vị và ý nghĩa này. Đối tác yêu cầu ông Việt phải sang Nhật báo cáo kết quả. Thế là ông bê các tấm vải 2,4 nghìn năm tuổi sang Nhật để rồi cũng lại gặp được những chuyên gia Nhật trong cùng lĩnh vực, các cỗ máy hiện đại nhất thế giới được vận hành để soi, chiếu, phân tích, xét nghiệm từng sợi vải “báu vật khảo cổ”.

Dự án này, cho đến nay rất sâu và đạt đến mức đỉnh cao nhất của thế giới hiện nay, là phân tích tìm ra cái chất liệu vải làm bằng gì, nhuộm ra sao, không phải chỉ bằng các đoán định; mà bằng các máy scan điện tử rất là lớn của những phòng thí nghiệm nổi tiếng của Tokyo (Nhật Bản), của CHLB Đức…

Chúng tôi có các tấm vải vừa đào được dưới mộ cổ, chỉ cần đưa lên kính hiển vi phóng đại lên, nghiên cứu được cả về các con rận đã từng bò trong áo ấy  và chết đi ở đó từ mấy nghìn năm trước. Nghiên cứu cả các nấm mốc từng bám vào sợi vải cổ…. Với cả các vấn đề tiền sử tưởng như mong manh xa vời nhất theo cách hiểu của người đời, chúng tôi cảm thấy nó vẫn có gì đó gần lắm. Khi gặp miếng vải “Tấm khố của Chử Đồng Tử”, tôi cảm thấy có cả hơi ấm của cái người đã mặc nó, đắp nó, lúc đó họ sống. Và giờ, hơi ấm tình người tiếp tục lan tỏa khi chúng tôi đem tấm khố huyền thoại có thật kia đi bán đấu giá làm từ thiện.

(còn nữa)

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm