“Dị nhân” đáng kính ở nơi một tiếng gà gáy ba nước cùng nghe

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 6:14 29/12/2020 |

Ông Pờ Sỹ Tài là một huyền thoại ở vùng Mường Tè, Mường Nhé (nay thuộc hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, nơi cuối trời Tây Bắc).

pờ sỹ tài 3
Ông Pờ Sỹ Tài tại nhà mình ở Sín Thầu

Hồi trẻ, người ta kể rằng, Pờ Sỹ Tài to con đến mức, ông có thể dùng một tay bế bổng anh nhà báo trẻ lên giời rồi gọi cả bản đến xem: Có người dũng cảm dám vào ngã ba biên giới sau gần một tháng trời đi bộ vượt dốc Tắc Tè, dốc Tà Tổng kinh hãi.

Sự nghiệp anh hùng và cuộc chiến bi tráng ở vùng ngã ba biên giới

Gần 20 năm trước, khoảng năm 2002, lần đầu tôi đi bộ để vào đến và bắt đầu quá trình gắn bó chắc là cả đời với xã Sín Thầu (nay thuộc huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) của vùng ngã ba biên giới Việt – Trung – Lào.

Ban Công an xã Sín Thầu nhận danh hiệu anh hùng, với linh hồn là “chiến binh” vạm vỡ Pờ Sỹ Tài. Ông Tài đã già yếu. Lời ông vừa buồn vừa yêu đời như tiếng gió ru một tàng cây bên bờ suối lớn Mo Phí: “Tôi vẫn to cao, vẫn nặng 95 ký lô, thiếu 5 cân là đầy một tạ. Hôm tôi bị ốm, phải đi Hà Nội khám. Con cháu phải đặt tôi lên lưng con ngựa, đi đúng 2 ngày trời vượt dốc rừng ra đến ủy ban xã Mường Nhé. Từ đó đi ôtô về Hà Nội”.

Bác sỹ ở Bệnh viện Quân y 108 chăm sóc ông Tài rất tận tình, người ta khám xong, cái anh bác sỹ ở khoa Tim thận gì đó anh ấy cứ loanh quanh sợ ông già “dân tộc” cưỡi ngựa từ bản về không biết tiếng. Ông Tài tính vốn nóng, mới hỏi thẳng: “Này cháu, thế ta bị bệnh gì, có chết ngay được không mà người nó mệt thế. Cả đời ta mười năm đánh giặc diệt phỉ không bao giờ có một giấc ngủ ngon mà vẫn bắn hổ bắn gấu thịt cho cả bản ăn. Giờ ta bị thế nào, có chết ngay được không?”.

Anh bác sỹ đọc bản xét nghiệm rồi mừng quýnh: “Dạ bác chỉ bị đái tháo đường, điều trị là an tâm ngay”. Ông Tài trợn mắt toan đòi về thẳng bản Tả Kho Khừ uống thuốc lá cho xong. Bởi, ông lý luận: “Ta nói với con. Nếu hôm qua con nghi ta máu có nhiễm mỡ thì ta tin. Bởi ta nặng 95 ký lô, thì kiểu gì mà chẳng có mỡ. Chứ đái tháo đường thì không phải rồi mà. Vì cả đời ta có ăn hạt đường nào đâu, lấy đâu ra đường mà đái tháo?”.

Anh bác sỹ trẻ ngẩn người mãi rồi mới giải thích: “Trên núi cao không có đường. Nhưng gạo cũng có đường, bác ạ”. Ông Tài gật gù, nhưng vẫn chưa tin lắm. Sau này tham khảo ý kiến nhiều người, ông mới đồng ý nằm lại ở Viện Quân y 108, mới nhất trí ý kiến cho rằng không ăn đường cũng có thể đái tháo đường được.

Xin “rào” trước là cách đây hơn chục năm, Nhà nước ta chưa có chính sách hạn chế (và cấm dần) sử dụng súng tự chế, cũng như săn bắn thú hoang. Bấy giờ, nhiều người kể, trong nhà ông Tài là một kho súng, ông thích chơi súng. Súng lớn, súng bé, súng hai nòng cũng có. Số hổ, số gấu ông Tài đã bắn hạ, thì chính ông có cố đếm cũng không xuể. Nhiều nhân chứng sống còn xác nhận, ông Tài cũng kể, độ trước, rừng ngã ba biên giới hoang biệt tới mức mỗi lúc đói kém hay lũ lụt thiên tai gì, Nhà nước muốn cứu trợ hay đơn giản là mang dầu muối lên cho đồng bào là đều phải dùng máy bay trực thăng. Bà con đến khi tôi vào thăm, vẫn chưa bao giờ nhìn thấy cái xe đạp, xe máy hay ôtô lăn bánh về bản bao giờ (vẫn cách đường ôtô khoảng 3 ngày đi bộ); nhưng họ rất quen thuộc với tiếng phành phạch của máy bay trực thăng tiếp tế.

Một lần, sau khi dọn bãi cỏ hoang cho tàu bay hạ cánh, Pờ Sỹ Tài nhận dầu, muối xong, xúc động quá bèn đem gần 1 tấn mật ong và 2 bộ da hổ ra tặng mấy anh phi công trẻ. Một người trong bản tặng phi hành đoàn cả bộ ngà voi!

60 tuổi, sau trận ốm, ông Tài về bản, sắm một cái ghế mây to khổng lồ rồi ngồi vào đó, hằng ngày vui với đám trẻ. Khi tôi có mặt, ông vẫn ngồi trong nhà giữa rừng rợp bóng mà nhìn suối Mo Phí thở phì phò. Câu chuyện của ông dài và trong lẻo như tiếng suối ì ào ngoài kia.

Những ngày ấy giặc dã gian nan lắm. Người dân thường hay gặp hổ. Trâu của hợp tác xã nhìn thấy hổ cứ đứng đừ ra đấy, hổ thích con nào thì nó vồ. Nó thích thì nó vào tận chuồng nó vồ. Có nhà đang làm cỗ, tự dưng tìm không thấy quả tim lợn đâu, biết là có điềm chẳng lành, chạy ra đầu chái thì thấy ông hổ đang cõng một thằng bé chạy vào rừng. Cả bản đuổi theo mới cướp được cháu nó về. Có khi hổ nó leo lên cây, nó cắn lá thổi lá thế nào mà tiếng nghe như tiếng nai – con nai tưởng tiếng bầy đàn mới chạy lơ ngơ ra thế là nó vồ.

pờ sỹ tài 2
Ông Pờ Sỹ Tài ở giữa

10 năm trời không một giấc ngủ ngon

Ông Tài đã cho chúng tôi những bài học núi rừng, bài học về một cuộc đời xả thân đầy nhiệt huyết. Một cuộc đời vạm vỡ. “Tôi chả nhớ đâu, mình chỉ muốn làm tất cả là vì bà con mình thôi mà. Tôi được tặng Huân chương chiến công hạng 3, Huân chương kháng chiến hạng ba, Huy hiệu Bác Hồ… Tôi xách súng 10 năm trời đi đánh giặc loanh quanh ở vùng này, không một giấc ngủ ngon. Thế mà chẳng hiểu sao không bao giờ thấy mệt.

Chúng tôi đi đánh giặc ròng rã, làm nghĩa vụ quốc tế suốt một dải biên cương, từ năm 1967-1969, rồi chống bọn phỉ đặc vụ Tưởng. Tiếp đó là cuộc vận động bà con định canh định cư, bỏ trồng và hút thuốc phiện. Người Hà Nhì ở ngã ba biên giới đã có thời kỳ dài 80-90% dân số là người… nghiện”.

Cuộc sống ủ chìm trong đói khổ và mây mù đặc quánh. Ông Pờ Tài bồi hồi nhớ lại: “Hoạt động cách mạng ở trong rừng núi này kể cũng là hãi hùng. Cả chục chiến sỹ biên phòng ngộ độc nấm, người trôi nước lũ trên đường tuần tra cũng nhiều, phỉ nó cũng giết mất nhiều cán bộ của ta. Hồi năm 1959, bọn phỉ ra lệnh, người như bố đẻ tôi là chúng liệt vào “hạng” phải giết bỏ (bố tôi là một trong vài Đảng viên đầu tiên của Chi bộ cả vùng 2 xã Sín Thầu – Chung Chải bây giờ).

Nó bắt mất con gái người ta, lạy van nó cũng không tha, nó bắt gà bắt lợn đi vào rừng mổ ăn với nhau. Tôi nóng nảy đi đòi, nó không trả. Tôi còn nhớ, bố ông Toán Phu Sè ở bên kia bị phỉ giết, ông xã đội đầu tiên của bản Tả Lao San cũng bị phỉ giết, 2 người nữa ở A Pa Chải này cũng thế. 17 tuổi tôi đã phải đi huấn luyện dân quân xã, cứ theo huyện đội người ta tập huấn mà làm”.

Bát cơm thời tiễu phỉ cứ là một hạt gạo cõng mấy củ sắn, mấy củ nâu, ăn cứ đắng chát. Đi làm cách mạng ông đã chứng kiến nhiều cái chết thương tâm của đồng đội. Đất nước mình nhô lên phía hai đường biên hai quốc gia bạn như hình một mũi tên xanh thắm. Từ bản Tả Kho Khừ nhà ông, đi hết 12 khúc suối phải xắn quần lên lội thì tới bản A Pa Chải.

Bây giờ ông đã già, nhưng nhắm mắt lại ông vẫn trông thấy một cây muỗm rất to do anh em công an vũ trang trồng ngày trước, ở ngay trước sân trạm. Cạnh đấy là một cây long não nằm trong khuôn viên trạm biên phòng. Chỗ ấy có một khe nước nhỏ. Và, 6 anh em đồng đội của ông đã bị giặc bắn chết, vứt xác ở đó.

Ông Tài dừng câu chuyện, ông lại húng hoắng ho, ngồi vào chiếc ghế mây khổng lồ dành cho người bệnh nặng 95kg, bị đái tháo đường. Ông không muốn nói điều gì về quá khứ oai hùng của mình, dẫu rằng, Công an tỉnh Lai Châu thời bấy giờ đã phải mất mấy tháng trời mới sưu tầm hết thành tích của ông và Ban công an xã Sín Thầu để phong tặng danh hiệu Anh hùng. Ông Tài đã góp phần viết nên lịch sử vùng phên giậu kham khó, quật cường và kỳ thú này. Hơn ai hết, ông lý giải được ngọn nguồn mọi tên đất tên rừng, tên con suối gộc cây ông đã từng gắn bó.

Sau cái đận cưỡi ngựa mấy ngày trời từ ngã ba biên giới về Bệnh viện 108, ông Tài phải kiêng rượu. Vậy mà cái không khí xuân nơi đây làm ông lại quên cả lời căn dặn của bác sĩ. Ông lôi hũ rượu ngâm cỏ cây xưa cũ ra uống. Uống như một huyền thoại gân cốt, huyền thoại tinh tường. Uống mừng cho quê hương đổi mới. Và ông lại chìm sâu vào hoài niệm của núi rừng nơi ngã ba biên giới …

Thế rồi, khi tôi viết những dòng này, ông Tài đã vội về cõi xa xanh. Hôm đứng trước ban thờ ông, tôi bật khóc như khóc một người ruột rà đã “vân giá phiêu phiêu. Lúc ấy, mẹ ông và vợ ông, hai người phụ nữ ôm lấy tôi ấm sực, cả ba, nước mắt dàn dụa. Tính đến nay, bản Hà Nhì biên cương này, là nơi duy nhất trong đời, tôi từng cắt máu ăn thề và làm lễ đặt một cái tên khác…

“Ngày trước, người dân ba nước đã bàn nhau xây một cái Đại Miếu dùng để thờ cúng chung cho bà con cả ba nước trong khu vực. Bây giờ nền đất đó vẫn còn ở bản Tá Miếu hiện nay. Còn ở ngã ba biên giới, nơi con gà gáy ba nước cùng nghe ấy có một mũi đá hình nón úp nhẵn thín. Vùng đất ngã ba này thiêng lắm..”, pho sử sống Pờ Sỹ Tài kể.

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm