fbpx

Hòn đảo người dân lúc nào cũng hạnh phúc (kỳ cuối)

Đăng lúc: 7:09 03/02/2020 -

Nơi ấy chưa bao giờ có sóng điện thoại di động hay internet, chưa bao giờ có xe đạp, xe máy hay ô tô xuất hiện. Tuy nhiên, không một người dân nào tỏ ra lăn tăn về việc mình “nghèo” cả.

hòn đảo hạnh phúc 2
Cư dân hiền hòa của các bộ tộc trên đảo hồ Titicaca, Nam Mỹ

Hòn đảo hạnh phúc – kiên quyết không chấp nhận xe cộ

Vì sao ở nơi này không có một cái xe đạp xe máy nào? Họ xếp đá làm đường ngoằn ngoèo, cao vút, lát cả đá ra đường đi bộ và triện cả ngày tháng sang sửa đường vào cho con cháu sau này tưởng nhớ.

“Toàn đá kỳ vĩ, như xây Kỳ quan thế giới Machu Picchu, như xây Kim Tự Tháp, sao họ không làm đường xe máy, xe đạp và thậm chí đường ô tô nhỉ?”, anh bạn người Bỉ hỏi tôi. Tôi bảo, chắc đó là một sự lựa chọn thôi. Tàu cao tốc chạy vè vè ngoài kia, chở một buổi thì 300 cái xe máy tới hòn đảo, chứ có gì khó đâu.

Về nhà, Clever bảo tôi lên gác mà nằm. Ngôi nhà đắp đất nâu óng, đệm dày mấy gang tay, nặng như khối đá. Nhìn chăn rực rỡ màu sắc như buồng cưới, tôi đoán, đêm sẽ rất lạnh. Clever chỉ ra các rặng núi tuyết nói rằng buổi tối phải đun nước mới đánh răng được.

hòn đảo hạnh phúc 1
Chưa bao giờ có mùi khói xăng hay cái bánh xe tròn nào lăn trên đảo

Mặt trời chưa tắt mà cái lạnh đã luồn lỏi, xiết vào da thịt người ta. Ở đây, mỗi nhà có một đàn cừu và rất nhiều gà vịt. Họ không sợ mất trộm, tối ngủ không cần cài then cửa. Nhưng họ cần làm cửa gỗ cao đến đầu gối để ngăn lũ cừu vào nhà phá phách.

Cửa ấy cũng khỏi cần khóa, lũ cừu bao giờ cũng húc vào bờ tường đá hay cửa gỗ khi cần tìm cách đi xuyên qua chúng. Vì thế, cửa nào cũng ở dạng này: Bà con, du khách chỉ cần kéo nhẹ là mở được, buông cánh cửa ra là nó tự đóng vào do bản lề của nó là cái đế dép cao su có đàn hồi. Lũ cừu muôn đời không biết làm vậy.

Và bà con nghĩ ra, đảo này ai cũng đi dép, dép cao su mòn vẹt, vứt ra thì làm bẩn nước hồ hay gò đồi, thôi thì tận dụng làm bản lề cửa. Cao su đàn hồi, đóng đinh vào miếng gỗ dựng dọc bờ rào đá, đóng thêm cái đinh vào tấm cửa, thế là hai miếng dép cũ đã giúp biến vài miếng gỗ thành cái cổng mà bản lề đàn hồi tự đóng cửa cho mỗi gia đình trên đảo.

Nhà tắm, nhà vệ sinh cũng quây lá, có tấm cửa gỗ, khỏi mua bản lề, ai ngồi phía trong thì tự cài then. Bình thường, để cửa khỏi bị gió lùa, khỏi bị lũ gà qué tự mở vào phá phách, bà con đều dùng vài hòn đá đẹp có lỗ, treo nó ở đầu cái dây thừng.

hòn đảo hạnh phúc 3
Hoa ở khắp mọi nơi

Bình thường, sợi dây với sức nặng vừa phải của khúc gỗ giúp vít cửa ở trạng thái đóng. Ai có nhu cầu, ẩy một cái cửa sẽ mở rồi tự đóng lại trước sức kéo căng của sợi dây có treo hòn đá.

Nước sinh hoạt được một tổ chức từ thiện làm đường ống bơm lên đỉnh núi, dẫn theo nguyên tắc bình thông nhau xuống mỗi gia đình. Hồ rộng 8.000 kilomet vuông, sâu từ 100 đến gần 300m, có mà cả thế giới bơm nước về sinh hoạt cũng đủ!

Chỗ rửa mặt, rửa tay ở ngoài bìa núi lộng gió, khăn lau tay phải chặn đá cuội lớn bốn góc. Các loài hoa ở nóc mọi ngôi nhà nở rực, nhưng lá và cánh hoa rất dày. Nó là một thứ hoa khác lạ với hình dung của chúng ta. Chúng đã kiên cường sống sót với cái lạnh căm và những cơn gió lộng óc nơi này.

Những cái cây cổ thụ trên đảo đều gầy guộc và kiêu hùng trước phong ba bão táp. Những con đường xếp đá, vài người đi chăn cừu, vài bà cụ váy áo sặc sỡ đi qua, chỉ nhô lên cái đầu. Hiếm nơi nào đá được xếp dài dằng dặc, miên man nối đuôi nhau đến thế. Hiếm có bản làng nào ở Việt Nam mà đường sá công phu tươm tất thế, trong khi không có một bánh xe nào từng lăn được ở đó.

hòn đảo hạnh phúc 5
Những hòn đảo và toàn bộ công trình, vật dụng làm bằng lau sậy

Sẩm tối thì Clever chạy xuống báo với tôi: “Bố cháu đã về rồi”. Vlasino năm nay 37 tuổi, da sạm đen, dáng uy nghi ngồi trong nhá nhem tối, bếp lửa bập bùng khiến anh ta càng giống như một già làng trưởng bản hơn.

Lâu lắm mới có khách ngủ lại ở xóm vắng, Vlasino cho gọi đủ bố vợ, mẹ vợ, xóm mạc, anh em ruột của mình và của vợ đến chào. Tôi mang thịt bò khô, thịt gà rang thành ruốc từ Việt Nam sang mời, vừa nếm thử, tất cả mọi người đều chảy nước mắt và bảo rằng, chưa bao giờ ăn cái gì cay thế.

Trong khi, đó là món ít cay nhất, tôi đã chủ động nhờ làm cho mình, một bệnh nhân đau dạ dày. Họ bảo, biết quả ớt nhưng không có thói quen ăn. Họ hỏi về Việt Nam ở bên kia bán cầu. Tôi bảo, bay hơn 30 tiếng liền tù tì với tốc độ gần một nghìn cây số một giờ, bố vợ Vlasino nhảy dựng lên, nói rằng không tin nổi.

Họ hỏi, nếu giơ quả này lên (ở đó có một thứ quả ăn rất phổ biến, nó tròn như quả táo và bên trong thì giống ruột quả chanh leo), xiên một cái xuyên tâm, thì bên này mũi dùi là đảo trên hồ Titicaca, bên kia là Đông Nam Á quê của vị khách duy nhất xin ở lại vài đêm trên đảo hôm nay.

Họ cũng như tôi, rất thú vị khi phát hiện ra, đi đến cùng trời cuối đất, đến vùng đất khó có thể xa hơn của địa cầu, mà cuộc sống, bản làng, người dân vẫn giống như ở bên kia. Hóa ra quả đất tròn và con người ở đâu cũng mưu cầu rồi hạnh phúc và khổ đau theo cách giống nhau cả.

Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao người dân ở đây không dùng xe cộ mà đi, không mua tivi mà xem, không sử dụng điện thoại di động nhỉ? Vlasino bảo: “Tôi có facebook chứ, chỉ lúc về thành phố Puno thì mới dùng thôi. Còn ở đây, chúng tôi không muốn sử dụng các thiết bị hiện đại của xe cộ, khói xăng. Chính quyền cũng đồng ý phương án đó, để giữ một cuộc sống trong vắt, cho hạnh phúc của chúng tôi và cho du khách”.

Vlasino nói tiếng Anh trôi chảy và giọng đầy tính “hiền triết”. Hóa ra anh ta từng làm ăn ở Lima, một thành phố lớn và sầm uất cách đảo mấy giờ bay và nhiều giờ đi ô tô. Con trai cả của anh ta cũng mưu sinh ở đó. Sau này, trong nỗi nhớ quê, trong sự tiếc nuối vùng đất trong lành, thấy buồn vì thân phận mình tha hương phố xá bẩn thỉu, bất an, Vlasino đã quyết định quay về.

Đắp đất, xếp đá làm hai căn nhà nhỏ, mỗi nhà có tầng một uy nghi như pháo đài, tầng hai giản dị như cái đài quan sát. Anh dành tầng hai cho dịch vụ homestay. Trước nhà, anh đắp một con đại bàng trắng trên trụ cổng.

Ở hòn đảo hạnh phúc này, hoa trồng bốn mùa rực rỡ, hoa dại lan từ nóc nhà ra mép hồ Titicaca. “Và tôi thấy hạnh phúc”, Vlasino ngả mũ rồi nói. Clever cũng ngả mũ theo cha. Tôi tưởng đó là nghi lễ chào khách quý, nhưng không, trong chiếc mũ chứa đầy lá cô ca.

Thứ cây này xuất phát từ Nam Mỹ và lan truyền khắp thế giới, với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, nó là một thứ ma túy tự nhiên. Nó bị cấm như lá, cây, quả anh túc (thuốc phiện). Còn ở đây, họ ăn như ăn trầu, họ uống như uống trà hằng ngày. Hiệu tạp hóa bán đủ lá tươi lá khô. Mỗi cái mũ là tú hụ lá cô ca, mỗi giải rút quần cũng giắt đầy lá khô, lá tươi.

Mỗi ngày mời Mẹ Trái Đất ba lá cô ca

Bỏm bẻm thưởng thức lá cô ca xong, Vlasino hất hàm bảo con mang ra một cái trống da cừu lớn, mặt trống to bằng cái mâm, da cừu trắng toát. Rồi kèn, sáo, nhị, anh ta biểu diễn say mê. Sau đó, Vlasino gọi vợ dọn ra một mâm khoai tây, kèm theo những con cá hồ Titicaca bé xíu như đầu đũa, con nào con đó ruột đắng nghét và tỏa ra một thứ hương vị kỳ lạ. “Ở đây nước rất lạnh, cá không lớn được, bụng mỗi con cá này ướp cả hương rừng sắc núi đấy”, Vlasino nói.

Vlasino cho biết, anh và người của sáu thôn bản chỗ này không muốn mùi khói xăng, không muốn sự xô bồ. Họ coi đó là hạnh phúc trời ban và không thể nào đánh đổi món quà của tạo hóa ấy bằng những cái giá rẻ mạt. “Khiêng một cái xe đạp hay xe máy lên đây thì dễ quá. Nhưng những thứ đó chỉ đem lại bất hạnh cho chúng tôi mà thôi”, anh ta quả quyết.

Trên các trụ cổng xếp đá hình cầu vồng trên đảo, có các gương mặt phúc thần gồm sáu mặt, được tạc bằng đá nguyên khối, tượng trưng cho sáu đơn vị dân cư nơi này. “Tôi là trưởng của một làng, một xã, một đơn vị dân cư. Tôi muốn bà con noi gương giữ gìn không gian thuần khiết của đảo”, Vlasino nói. Tối đến, có điện mặt trời từ một tổ chức từ thiện, họ mắc điện này cho bà con hơn 20 năm nay và chỉ để thắp sáng thôi.

Họ tôn trọng từng chi tiết nhỏ nhất của thiên nhiên, cả cái ngọn cây leo qua cửa sổ vào nhà cũng không ai cắt, mà vắt nó ra ngoài rồi mới khép cửa lại ngăn gió lạnh. Con muỗi chui vào màn, họ cũng mở cửa màn đuổi muỗi ra rồi tạ ơn Mẹ Trái Đất trước khi ngủ. Sáng sớm một hôm đẹp trời, Clever dẫn tôi đi xuyên qua “hòn đảo hạnh phúc”, lên nơi cao nhất để dâng lá cô ca cho Mẹ Trái Đất ở một ngôi đền thiêng.

Trên hòn đảo hạnh phúc này, ngôi đền được bà con xếp đá hộc tạo thành những mái, vòm như bành con rắn hổ mang, để thờ Mẹ Trái Đất. Đền ở nơi cao nhất đảo, Clever bước qua phom cổng cong mái vòm, vào thiên la địa võng đá bao quanh rồi thành kính quý lạy, rút trên phom mũ nhọn ra ba cái lá cô ca nguyên hình hài nhất. Dù khô, chúng vẫn xanh như khi còn ở trên cành. Tiếng cầu khấn lầm rầm. Rồi cu cậu tìm cách thảy ba lá cô ca vào các kẽ đá của khu thờ tự.

hòn đảo hạnh phúc 4
Mỗi ngày họ chọn 3 lá cô ca đẹp và thảy ra mời mẹ Trái Đất

Ở nhà hay đang đi đường, mỗi lúc thấy lòng thanh thản và muốn tạ ơn trời đất đã cho mình một không gian sống tuyệt vời nhất, người trên đảo lại rút trên mũ đội đầu ra ba lá cô ca, tìm một chỗ mà đất thịt lộ ra nục nạc nhất, họ thảy vào đó, mời Mẹ Trái Đất về hiến hưởng. Vài người già bảo, họ sinh ra ở đây và chưa bao giờ ra khỏi hòn đảo, vì hạnh phúc của họ luôn tràn đầy. Núi tuyết uy nghi như một vị phúc thần khoác giáp trụ bằng bạc.

Mẹ Trái Đất mở lòng bảo bọc họ, không mùi khói xăng, không thị phi internet hay mạng xã hội. Không có cỗ xe nào để đi nhanh hay gây tai nạn, cứ đủng đỉnh như voi lên đền. Họ cứ sống lành lẽ như vậy. Lúc chia tay, cả nhà Clever ôm lấy tôi.

“Xa xôi quá, không dám hẹn ngày gặp lại. Tôi cứ nghĩ, bên kia bán cầu phải là vùng hoang hóa, tuyết phủ hay núi giăng kín không một dấu chân người”, Vlasino rủ rỉ. Clever từ khi biết cậu còn ít tuổi hơn con tôi, quay ra gọi tôi là cha. Lúc xuống thuyền tiễn biệt, cu cậu giúp nhổ neo và đẩy thuyền đi, tôi đã ngậm ngùi quay đi, không dám nói câu giã từ.

Ở tít tịt bên kia bán cầu, dù hòn đảo hạnh phúc vắng vẻ hoang sơ xa xôi nhất, hóa ra, cuộc sống, xúc cảm và những suy nghĩ về sự đời nó vẫn giống ở ta. Ở Lima, Cusco hay Puno, vẫn có người sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ để lấy xa hoa của nền văn minh kỹ trị; vẫn có những người từ chối vòng quay huyền thoại của bánh xe hình tròn và sẵn sàng rũ bỏ tất cả để khỏi phải ngửi mùi khói xăng…

Hòn đảo người dân lúc nào cũng hạnh phúc (kỳ 1)

Bài và ảnh Trần Quân

Bình luận