fbpx

Khám phá những nghi lễ an táng độc đáo, rùng rợn cho người chết (kỳ cuối)

Đăng lúc: 11:16 25/10/2019 -

Nếu như điểu táng là nghi thức mai táng phổ biến ở Tây Tạng, hỏa táng và thủy táng là nghi thức mai táng phổ biến ở Ấn Độ thì ở Việt Nam, thổ táng hay còn gọi là địa táng (chôn xuống đất) là kiểu mai táng phổ biến nhất.

Khám phá những nghi lễ an táng độc đáo: Địa táng - cải táng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, địa táng là nghi lễ mai táng phổ biến

Kỳ cuối: Địa táng – cải táng ở Việt Nam

Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, mai táng cho người chết là một trong những nghi thức quan trọng bậc nhất. Bởi hầu hết mọi người đều tin rằng: chết không phải là hết. Phần mộ của tổ tiên ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh của một gia đình, thậm chí, của một dòng họ. Đối với những ngôi mộ kết phát, con cháu làm ăn rất phát đạt, học hành giỏi giang, công danh thành đạt. Trái lại, những ngôi mộ khi bị “động”, “phạm” thì tai họa ập đến với con cháu sẽ khôn lường. Từ ngàn đời nay, dân gian đã lưu truyền câu nói: “Sống là nhờ mồ nhờ mả. Không ai sống bằng cả bát cơm”.

Nếu như điểu táng là nghi lễ mai táng phổ biến ở Tây Tạng, hỏa táng và thủy táng là nghi thức mai táng phổ biến ở Ấn Độ thì ở Việt Nam, thổ táng hay còn gọi là địa táng (chôn xuống đất) là kiểu mai táng phổ biến nhất. Có điều, ở hai miền Nam – Bắc, do sự khác biệt của văn hóa vùng miền mà nghi thức này cũng có những dị biệt. Nếu như ở miền Nam, người chết chỉ chôn một lần, đào sâu chôn chặt thì ở miền Bắc, sau ít nhất 3 năm chôn cất, người ta lại đào lên lấy cốt mang chôn lại. Đằng sau nghi thức bốc mộ ấy có khá nhiều hệ lụy với những câu chuyện khá rùng rợn, ám ảnh.

Phong tục cải táng

Bốc mộ, sang đất, sang cát, thay nhà mới, thay áo mới… là những cách gọi khác nhau của việc cải táng mồ mả. Đây là nghi thức cuối cùng của tang lễ, đặc biệt quan trọng trong truyền thống tâm linh của người Việt Nam. Từ ngàn đời nay, người Việt tin rằng, chỉ sau khi được cải táng thì linh hồn người quá cố mới được xem là sạch. Khi đó, bài vị mới được đặt lên bàn thờ chính để thờ cùng với ông bà tổ tiên. Việc lựa chọn cách thức bốc mộ phải đúng và hợp với phong thủy. Các thế đất như hình dáng con rồng, con hổ… được cho là đất phát vương phát tướng, nếu đặt mộ cha mẹ vào nơi có huyệt đạo như vậy thì con cháu sẽ hiển vinh, giàu có và thành đạt.

Theo cụ Phan Kế Bính viết trong cuốn “Việt Nam phong tục” thì “Cải táng có nhiều cớ. Một là vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất, không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài. Hai là vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng. Ba là vì, các nhà địa lý phong thủy xưa cho biết, thấy chỗ mả vô cớ mà sụt đất hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm liên miên, hoặc trong nhà có kẻ nghịch ngợm, sinh ra kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại đất mà cải táng. Bốn là, những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng. Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà kia, để cầu được hưởng dư huệ”.

Có thể nói, phong tục cải táng ở Việt Nam bắt nguồn từ thời người Hán sang cai trị. Trước thời Bắc thuộc, dân ta không có tục lệ bốc mả, cải táng mà chôn sâu, chôn chặt một lần. Những di tích mộ thuyền khai quật được đều trước thời Bắc thuộc. Sau này, thời Bắc thuộc, một số quan lại và thương gia Trung Hoa sang ta cai trị, làm ăn nhưng gia đình, họ tộc vẫn ở quê nên sau khi chết, họ muốn được đưa về quê cũ. Với họ, chôn sau khi chết chỉ được coi là chôn tạm.

Khám phá những nghi lễ an táng độc đáo: Địa táng - cải táng ở Việt Nam 1
Cải táng chỉ có ở phía Bắc Việt Nam

Sau 3 năm xác phân hủy hết, họ bốc hài cốt đưa về quê mới thực sự là nơi an nghỉ cuối cùng. Vì thế, hầu hết các ngôi mộ người Hán, đầu đều ngoảnh về phương Bắc – quê cha đất tổ. Người Việt thấy họ bốc mộ cũng bắt chước làm theo. Về sau thành lệ và thành phong tục. Điều này giải thích tại sao tục bốc mộ chỉ có ở các tỉnh miền Bắc trong khi từ miền Trung trở vào, xưa kia không thuộc Giao Chỉ, người ta chôn một lần là xong theo kiểu đào sâu chôn chặt.

Việc bốc mộ sau 3 năm chôn cũng do yếu tố địa lý. Đồng bằng Bắc Bộ phần nhiều là đất pha cát phù sa. Trong khi đó, gỗ áo quan chôn lại nhanh hỏng và hay sập ván thiên bởi mùa lũ thì đầy nước, mà mùa cạn thì khô, mối lại hay tụ lại trên chỗ đất cao (mồ mả hay cao hơn ruộng) nên hay xông vào áo quan. Nếu không cải táng, tắm rửa thay áo cho người mất thì rất bẩn. 

Mộ kết và những dấu hiệu tích tụ linh khí

Tôi sinh ra và lớn lên ở miền quê xứ Đoài – một trong những cái nôi cổ nhất của văn hóa xứ Bắc. Vì thế, ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã tận mắt chứng kiến những nghi thức bốc mộ rất kỹ càng và cẩn trọng. Trước khi tiến hành cải táng, việc đầu tiên không thể thiếu là kiểm tra mộ phần xem đã đủ thời gian cải táng chưa, mộ đó có kết hay phạm trùng không? Các cụ quê tôi thường bảo: “Có ba điều là tường thụy (tức mả phát tốt đẹp) mà không cải táng. Một là, khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là Long xà khí vật. Hai là, khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết. Ba là, hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa đều là tốt. Khi nào gặp như thế thì phải lập tức lấp lại ngay”.

Thế nào là mộ kết? Tại sao khi gặp mộ kết phải lấp lại ngay? Cụ đồ Mão – cụ đồ nho nổi tiếng ở quê tôi giải thích: “Mộ kết là ngôi mộ đã hấp thụ được linh khí của Long mạch cũng như đón nhận được phúc trạch của âm phần. Việc tích tụ khí tốt lành trong ngôi mộ sinh ra kết phát, nhờ vậy mà đem đến những điều may mắn cho cuộc sống của con cháu. Cả dòng họ được hưởng nhiều phúc lộc, gia đình hòa thuận, hạnh phúc, sức khỏe dồi dào, công chuyện làm ăn thuận lợi, suôn sẻ, gia đạo mọi bề đều tốt đẹp, như ý. Nhưng nếu bốc phải mộ kết thì dòng họ lụn bại, chết độc đinh, chết cháu đích tôn”.

Có nhiều cách để kiểm tra mộ kết như bằng các phương pháp cảm xạ, ngoại cảm, cảm nhận trường khí. Song cũng có thể quan sát bằng mắt thường. Những ngôi mộ kết phát ngày càng nở ra do được tích tụ linh khí của Long mạch giống như những cái gò thường nổi lên do hiện tượng dư khí của Long mạch trên cánh đồng. Trên các ngôi mộ kết, cỏ thường mọc rất nhanh và xanh tốt. Người xưa dùng cách cắm những cành cây khô vào những cuộc đất nghi có mộ kết. Nếu những cành khô đó nẩy mầm xanh tốt thì gần như chắc chắn rằng nơi đó có Huyệt kết. Một quan sát khác nữa là nhìn những viên đá, bia mộ tại huyệt. Nếu chúng bóng loáng, sạch sẽ như được phủ một lớp dầu bóng hay lau chùi thường xuyên thì chắc chắn mộ này đã kết.

Khám phá những nghi lễ an táng độc đáo: Địa táng - cải táng ở Việt Nam 2
Với mộ kết, người dân sẽ không thực hiện việc cải táng

Khi gặp trường hợp mộ kết thì tốt nhất là để nguyên không được dịch chuyển vì sẽ gây ra vô vàn rắc rối trong cuộc sống của cả dòng họ. Nếu bắt buộc phải di dời vì lý do nào đó phải có những phương thức của Huyền môn và phong thủy rất phức tạp. Khi mộ kết, thông thường kết từ chân lên tới đầu. Song cũng có vài ngôi mộ do kết cấu của Long mạch và của mộ sẽ kết theo chiều ngược lại. Trong thực tế, kết có thể ở một trong các dạng sau: kết tơ hồng, kết mạng nhện, kết chu sa hay kết băng. Theo đó, mỗi dạng kết sẽ có các màu sắc khác nhau từ xám cho đến màu trắng, màu đỏ hay màu hồng. Trong số đó, dân gian ta cho rằng màu đỏ như chu sa là loại mạnh nhất.

Vẫn theo cụ đồ Mão, một số người thường nhầm mộ kết với mộ bị phạm trùng. Có nhiều loại trùng nhưng biểu hiện rõ nhất là xác chôn qua nhiều năm không tan. Có những khu vực có hàng loạt mộ chôn tới hàng chục năm xác vẫn còn gần như nguyên vẹn. Gặp trường hợp này thì phải lấp lại nhưng để quan tài công kênh, đồng thời để bớt ra một số lỗ thông thoáng từ ván thiên tới nóc phần ngang mộ bằng cách trước khi lấp mộ, cắm một số cây tre theo các vị trí từ ván thiên tới nóc phần ngang mộ. Sau khi đắp xong, rút tre ra để cho không khí vào mộ tiêu nhằm tiêu hết thịt còn lại. Việc bốc mộ sẽ để sang năm tới.

Việc lựa chọn thời điểm tốt lành để cải táng vô cùng quan trọng. Chọn năm để tiến hành cải táng phải hợp với tuổi của người đã mất, tránh xung khắc với bản mệnh cũng như tránh phạm phải các năm xung sát. Bên cạnh đó, còn phải tính năm dựa trên tuổi của trưởng nam trong gia đình.

Khi đã chọn được năm thích hợp, người ta mới tính đến việc lựa chọn tháng tốt trong năm. Thời gian bốc mộ tốt nhất là từ cuối thu đến trước ngày Đông Chí. Sau khi đã chọn được tháng, tiếp đến cần xem ngày tốt và chọn giờ hoàng đạo để bốc mộ và sang cát tạo huyệt mới.

Những nghi thức cải táng

Với hầu hết các gia đình người Việt, cải táng được coi là đại sự. Đây không chỉ là việc giúp người đã khuất được “mát mẻ” mà còn liên quan đến sự hưng suy của gia tộc. Vì thế, không ít gia đình đầu tư tiền của cho việc đại sự này. Theo cụ đồ Mão, khi đã chọn lựa được thời điểm tiến hành bốc mộ thì người trong gia đình sẽ phải chọn lựa một huyệt đất mới để chuyển hài cốt sang. Bởi không phải đất nào cũng an táng lập phần mộ vĩnh cửu được.

Ngày xưa, điều kiện đất đai còn rộng lớn thì việc này tương đối dễ dàng. Ngày nay, đất chật người đông, diện tích đất dành cho người chết cũng rất hạn chế. Thường ở địa phương sẽ tiến hành bố trí cho gia đình một huyệt đất mới ở cùng nghĩa trang nơi hung táng. Các gia đình có điều kiện thường nhờ thầy địa lý tầm long tróc huyệt để chọn lựa được một khu mộ huyệt thật ưng ý hoặc lập thế tụ long tạo trạch đối với khu đất mà địa phương đã an bài. Song đối với các gia đình bình thường, không có điều kiện lựa chọn, phải bắt buộc chôn trong vùng đất được giao thì cần chú ý một số điều sau đây:

Thứ nhất, vùng đất được chọn để tiến hành huyệt mộ phải là nơi đất mới, chưa từng bị đào xới, chưa từng chôn lấp là tốt nhất. Mặt đất bằng phẳng, rắn chắc và tươi tốt sẽ giúp cho khí huyệt dồi dào, tích tụ và dẫn luồng khí tốt. Đất phải xốp mịn, có mùi thơm và khi đào sâu từ 6 đến 7 cm, đất phải đặc quánh lại, có màu nâu đậm hay vàng nhạt thì tốt.

Thứ hai, lựa chọn huyệt đào phù hợp. Đó phải là vùng có đất tươi xốp, màu mỡ, mềm mịn, không quá khô cứng, như vậy sẽ tốt cho xương. Trong trường hợp nếu đào lên thấy đáy huyệt có mạch nước ngầm chảy xiết thì tuyệt đối cấm kỵ không được đặt mộ vì rất dễ trôi mất tiểu. Trừ khi xác định được dòng nước này là “tụ huyệt long thủy lộ” thì có thể chấp nhận được. Nếu đào thấy có ít nước thì tốt nhưng nước phải trong suốt, không đục ngàu, không có mùi hôi tanh hay mùi khó ngửi.

Thứ ba, ở các khu nghĩa trang thường xảy ra tình trạng thiếu đất, quá tải trầm trọng gây nên hiện tượng các mộ chen lấn nhau nên khi chọn huyệt cần tránh các mộ xung quanh đã lấn chiếm trước đó để tránh tình trạng mộ đè lên mộ. Khi lập mộ cần tránh việc các mộ khác chọc vào ngay trước phần mộ nơi chôn cất hoặc đâm xuyên vào hai bên mộ. Tốt nhất nên chọn huyệt sao cho bề trước rộng rãi, thoáng đãng lại có hướng nhìn ra ao hồ, sông suối để đón không khí tươi mát, trong lành. Trong trường hợp diện tích đất quá hẹp không đủ để phía trước rộng thoáng thì ít nhất cũng phải chừa ra được một khoảng trống nhỏ trước huyệt.

Thứ tư, cần phải tiến hành quan sát cẩn thận, kỹ lưỡng toàn bộ hệ thống đường dẫn xung quanh huyệt mộ. Nếu đường đi đâm sang hai bên cũng như đâm thẳng chính diện của huyệt tức chủ yếu về phá bại, tuyệt đối không dùng. Đường đi mà theo sát ngay phía sau huyệt mộ cũng không thể sử dụng vì nó chủ về tổn hại, ắt sinh điềm bất lợi. Thông thường, người ta hay chọn huyệt ở những nơi yên tĩnh, thông thoáng, có khoảng cách tương đối xa so với các đường đi, lối dẫn qua lại quanh khu vực mộ phần.

Thứ năm, riêng đối với vùng núi non cần phải kiểm tra, thẩm định huyệt theo một số các tiêu chí địa lý đã xác định. Tốt nhất nên chọn huyệt ở những nơi có long hổ hai bên bao bọc, có cao sơn che chắn vững chắc phía sau, trước hướng minh đường thủy tụ.

Sau khi các bước trên chuẩn bị kỹ lưỡng, xong xuôi, người ta mới bắt đầu tiến hành bốc mộ. Trước khi tiến hành bốc mộ, người nhà phải làm một cái lễ tại nhà để trình báo tổ tiên. Ngoài nghĩa trang, nơi bốc hài cốt, cũng phải có một cái lễ trình quan thần linh sở tại. Lễ vật bao gồm một bộ đồ quan thần linh: áo, mũ, ủng, ngựa và 1.000 vàng hoa màu đỏ, vàng mã, trầu cau, rượu, thuốc, đèn nến, gạo muối, xôi, gà trống luộc nguyên con hoặc thịt lợn luộc… Vật dụng cần thiết cho quá trình bốc mộ là một cái tiểu sành, một cái quách đặt làm sẵn, một miếng vải đỏ, một tấm ni lông, vài lít rượu trắng và nước vang, một vài cái xô, chậu nhựa để rửa xương. 

Thông thường, ban ngày người ta chỉ tiến hành làm lễ phạt nấm rồi đợi đúng đến giờ tốt mới mở tấm ván thiên – tức nắp ván trên nóc của quan tài. Tùy theo giờ tốt mà bốc nhưng bao giờ cũng phải làm vào ban đêm. Việc này nhằm tránh cho xương cốt gặp ánh sáng sẽ bị đen đi. Công việc bốc mộ thường do những người chuyên môn bốc mộ đảm nhiệm. Khi nắp ván thiên được cậy ra, người ta đổ vài chai rượu có nồng độ cao vào quan tài để tẩy rửa âm khí. Sau đó mới tiến hành lấy cốt. Nhiều khi gặp trường hợp hài cốt chưa phân hủy hết, người ta phải dùng xăng đổ vào mộ và đốt cháy thịt còn sót rồi dùng dao dóc những mảnh thịt còn lại và đem rửa bằng nước vang.

Sau khi nhặt hết cốt, rửa sạch, người ta trải tấm ni lông ở dưới, tấm vải đỏ ở trên và lần lượt xếp xương theo thứ tự. Riêng cái sọ phải dùng trà hoặc vải kê để cho mặt hướng lên trên. Mọi thứ xương phải kiểm tra cho đủ, không được phép thiếu. Có một cách mà người dân quê tôi thường sử dụng để kiểm tra đó là: sau khi “đãi cốt” xong, người ta sẽ cắm một bó hương to giữa lòng đáy huyệt. Nếu làn khói quyện lại, bay thẳng lên có nghĩa đã hết cốt. Nếu làn khói tỏa xuống, lởn vởn trong lòng huyệt có nghĩa là xương cốt của người chết chưa hết, cần phải kiểm tra lại.

Đợi đến giờ tốt, người nhà sẽ đem hài cốt chôn tại khu huyệt mộ mới. Nếu khu mộ mới ở tại một nghĩa trang khác thì phải làm lễ tế xin phép quan thần linh sở tại, sau đó mới được hạ huyệt làm lễ chôn cất. Khi mộ xây xong, tiến hành làm lễ hàn long mạch và tạ mộ.

Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Bình luận