Kỳ lạ hai phụ nữ chung chồng sống hòa thuận, “coi nhau như chị em”

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 7:06 02/12/2020 |

Hai người có sự phân chia công việc rạch ròi khi chung chồng. Bà vợ cả khỏe mạnh hơn thường lên rừng hái măng, hái nấm, kiếm củi. Bà vợ hai thì ở nhà nấu nướng, giặt giũ, chăm sóc vườn tược, xuống sông xúc tôm cá lo bữa ăn cho cả gia đình.

chung chồng 4
Ông La Văn Liệu và bà Kỷ

Thợ săn buông súng

Hai người phụ nữ chung chồng ấy sống ở Cò Phạt, xã Môn Sơn (Con Cuông – Nghệ An). Và người đàn ông của đời họ ông La Văn Liệu. Ông Liệu đã hơn sáu mươi tuổi nhưng vẫn giữ được dáng vẻ chắc nịch của một thợ rừng. Mắt ông sáng quắc, tóc đen dài phủ xuống gáy. Cư dân bản Cò Phạt ví von ông có tài leo trèo, thoắt ẩn thoắt hiện như một bóng ma. Không khó để tìm thấy những bằng chứng về biệt tài của ông Liệu trong nghề rừng.

Chỉ cần bước vào gian bếp ngôi nhà đất nơi cư trú của hơn chục con người trong gia đình đông đúc nhất bản này là sẽ bắt gặp những cặp sừng nai, hoẵng, những hũ sành đựng mật ong… Bằng thứ chất giọng khàn khàn đầy bí ẩn, ông Liệu nói rằng với phương pháp bí truyền, những “món” này có cất cả mấy năm trời cũng không hỏng. Chỉ vậy thôi đã thấy rằng La Văn Liệu là một thợ rừng thứ thiệt.

Ông Liệu là một người rất đỗi đặc biệt ở cộng đồng người Đan Lai nơi “sơn cùng thủy tận” này. Người Đan Lai ở vùng rừng núi huyện Con Cuông là một cộng đồng thiểu số với khoảng trên 3.000 nhân khẩu. Trước kia người Đan Lai sống rải rác ở khu vực gần biên giới Việt – Lào thuộc các xã Môn Sơn và Châu Khê (Con Cuông).

Một câu chuyện truyền thuyết kể rằng mấy trăm năm trước dọc con sông Giăng thuộc huyện Thanh Chương cách nơi ông Liệu ở hiện nay ngót trăm cây số có ngôi làng nọ sinh nhai bằng nghề chài lưới. Một hôm quan binh triều đình kéo đến bắt bớ khiến ai nấy đều lo sợ. Kẻ cầm đầu toán quân ra lệnh nội trong ngày người làng phải giao nộp 100 cây nứa vàng và “con thuyền liền chèo”. Không có cống phẩm, cả làng sẽ bị sát hại. Chẳng ai biết cống phẩm quan đòi là gì. Một trăm cây nứa màu vàng hay bằng vàng? Cũng chẳng ai biết “con thuyền liền chèo” là thứ gì.

chung chồng 1
Bữa cơm gia đình đông đúc của ông lão “đa thê”

Để tránh tai họa, dân làng dắt díu nhau ngược sông mà chạy trốn. Họ đi về miền miệt rừng, chạy mãi cho đến khi không còn nhìn thấy bóng người nữa thì dừng lại lập làng mới. Đó là cách giải thích về nguồn gốc của người Đan Lai mà hầu như bất kỳ người trưởng thành nào của cộng đồng này cũng biết đến.

Từ đó, cộng đồng Đan Lai sống chui lủi giữa rừng già. Trong một thời gian dài họ không dám tiếp xúc với thế giới bên ngoài vì e ngại gặp phải quan quân triều đình. Họ có thói quen ngủ ngồi bên bếp lửa vừa để sưởi ấm và tránh thú dữ. Vì thế mà báo chí quen gọi họ là “tộc người ngủ ngồi”.

Trước kia, một bộ phận lớn người Đan Lai chỉ sống co cụm ở thượng nguồn sông Giăng, giữa vùng lõi Vườn quốc Gia Pù Mát thuộc xã Môn Sơn. Từ khoảng những năm 1960, cộng đồng này định cư ở một số làng bản tại xã Châu Khê cho đến tận bây giờ.

Từ đầu những năm 2000, chính quyền địa phương bắt đầu vận động bà con Đan Lai di dời ra trung tâm xã Môn Sơn và xã Thạch Ngàn xây dựng nên những khu tái định cư mới của người Đan Lai. Dẫu vậy, hiện nay giữa vùng lõi Vườn Quốc gia Pù Mát vẫn còn trên 180 hộ Đan Lai, gần 1000 nhân khẩu cư ngụ. Riêng bản Cò Phạt, nơi ông La Văn Liệu cư trú có 87 hộ.

Cũng như bao cư dân của miền miệt rừng, từ nhỏ, ông Liệu đã quen với cuộc sống săn bắt hái lượm. Ông lão là một trong những người thạo nghề rừng nhất cộng đồng. Thế nhưng từ gần chục năm nay, ông lão bỏ hẳn nghề săn bắn. Lão kể trong đời không biết đã hạ sát bao nhiêu thú dữ. Hổ, gấu đều có, thậm chí cả voi cũng từng phải nằm gục dưới làn đạn của ông.

Bây giờ, rừng không còn thú, cộng thêm chính sách của Nhà nước cấm tiệt việc săn bắt động vật hoang dã cũng là một trong những nguyên nhân khiến ông bỏ nghề săn. Nhưng điều quan trọng khiến ông không muốn hạ sát thú rừng nữa vì cảm giác tội lỗi cứ đeo đẳng mãi sau mỗi chuyến săn.

Đỉnh điểm là một cuộc săn đã diễn ra khá nhiều năm về trước khiến ông bỏ nghề. Lần ấy, ông cùng một người nữa đi rình bắn đàn vượn. Khi con đầu đàn bị bắn ngã từ ngọn cây xuống, bầy vượn không chịu rời đi mà xúm lại bên xác đồng loại. Chúng tỏ ra tiếc thương hệt như khi người ta gặp nạn vậy. Trước cảnh tượng này, cây súng như một khúc gỗ tầm thường trên tay hai người thợ săn vậy. Ông và người bạn săn lặng lẽ nhìn lũ vượn khiêng xác con đầu đàn đi mà chẳng biết làm gì hơn.

Mấy năm sau, trong một cuộc vận động của chính quyền địa phương, ông đã đem giao nộp khẩu súng săn và sau đó làm nghề bốc thuốc Nam để kiếm sống và nuôi gia đình. Giờ thì chuyện sát hại thú rừng chỉ còn là những kỷ niệm trong lúc trà dư tửu hậu.

40 năm chung chồng, hai người vợ hầu như không cãi nhau

Có một người phụ nữ vẫn lặng lẽ ngồi cạnh ông Liệu trong lúc ông trò chuyện với tôi. Đó là bà Vi Thị Kỷ, vợ ông. Khi câu chuyện đã trở nên thân tình hơn, ông lão không ngại chia sẻ bà Kỷ là người vợ thứ hai của ông. Bà vợ cả đang đi lên rừng hái thuốc. Ông Liệu hiện là người duy nhất trong cộng đồng Đan Lai đang sống chung mái nhà với hai người vợ.

Theo ông lão, vào năm 1979, mới ngoài hai mươi tuổi, ông lập gia đình cùng bà La Thị Hường, người cùng bản. Trong suốt hơn 40 năm chung sống, hai người sinh 13 người con. Người con cả giờ cũng sắp có cháu ngoại. Đứa bé nhất vừa vào lớp 4.

  Sau khi cưới vợ đầu chưa được bao lâu thì ông Liệu gặp bà Kỷ, trong một chuyến đi mừng nhà mới ở một bản người Thái. Cũng khá tình cờ, sau đó hai người thường xuyên chạm mặt và nảy sinh tình cảm. Bà Kỷ tâm sự: “Hình như trời cho tôi xuống để làm vợ ông ấy”. Sau cuộc gặp lần đầu không lâu, bà Kỷ dọn về ở cùng nhà với người đàn ông mà mình đã lựa chọn. Bà vợ cả không phản đối nên bà cũng phần nào yên tâm. Ông Liệu làm thêm một căn buồng ở phía đối diện làm nơi ở cho bà vợ mới.

Dù là “vợ hai” và chẳng có giấy hôn thú, nhưng bà Kỷ sống khá hòa thuận với người vợ đầu của ông Liệu. Hai người có sự phân chia công việc rạch ròi. Bà vợ cả khỏe mạnh hơn thường lên rừng hái măng, hái nấm, kiếm củi. Bà Kỷ chỉ việc ở nhà nấu nướng, giặt giũ, chăm sóc vườn tược, xuống sông xúc tôm cá lo bữa ăn cho cả gia đình hơn mười miệng ăn. Những lúc ông chồng đi rừng, hai người lại giúp nhau các công việc trong nhà. “Bọn tôi coi nhau như chị em ấy mà”, bà Kỷ cười xuề xòa.

chung chồng 2
Bà Kỷ chăm sóc ruộng lúa của gia đình

Bà cho hay bản thân không ngại ngần khi tên của mình được đưa lên báo. Bà xem đây là một mối duyên trời định nên vẫn cảm thấy hạnh phúc khi hai phụ nữ cùng chung chồng.

Bà Kỷ cho hay, dù chung sống đã gần 40 năm nhưng chẳng mấy khi vợ chồng họ cãi nhau. “Khi thì người này nhịn, khi người kia nhịn nên đời sống cũng có thể gọi là yên ổn” – bà Kỷ tâm sự. Điều khiến bà buồn nhất là bà chỉ có một đứa con cùng với ông Liệu. Dù sinh nở khá nhiều lần, nhưng hầu hết những đứa trẻ đều yểu mệnh hoặc sảy thai. Dẫu vậy thì đàn con đông đúc gồm 13 người con của ông Liệu và bà vợ cả vẫn quý trọng bà Kỷ. Họ cũng rất mực chăm nom khi bà ốm đau, nằm viện.

Về phần mình, ông La Văn Liệu cho hay bản thân không mong muốn gì chuyện lấy thêm vợ vì phải vất vả trăm bề. Trong cộng đồng người Đan Lai, người ta cũng chỉ chung sống một vợ một chồng. “Ngày trước còn trẻ chưa suy nghĩ được như bây giờ, với lại các bà ấy cũng đều hòa thuận nên cứ ở với nhau như vậy. Giờ thì chúng tôi đều đã có tuổi nên chỉ còn biết sống thương yêu, nương tựa nhau thôi”, ông bộc bạch về chuyện chung chồng.

Minh Nguyệt

Bình luận

Bạn có thể quan tâm