Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 4)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 8:00 26/05/2019 |

Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, chưa có ai sánh được danh tiếng về tài tiên tri và những sấm ký lưu truyền theo dòng lịch sử như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông giúp đỡ không chỉ riêng chúa Nguyễn dựng nghiệp lớn với 9 đời chúa, 13 đời vua mà còn vạch đường cho chúa Trịnh biết cách “thờ Phật ăn oản”, cho nhà Mạc chạy về “ẩn tại Cao Bằng”. Những tiên đoán chính xác về thế sự, về các vùng đất “ẩn long” hay “vạn đại dung thân” của ông đến tận bây giờ vẫn được người đời nhắc đến với lòng ngưỡng mộ đặc biệt.

Tượng Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Kỳ 4: Đất ẩn náu của bậc đế vương họ Mạc

Nhà Mạc ngày càng sa sút

Kể từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527, Mạc Mậu Hợp là vị hoàng đế thứ 5 và cũng là vị vua cuối cùng của nhà Mạc thời Nam – Bắc triều. Ông lên ngôi năm 1562 lúc vừa 2 tuổi, trị vì cho đến khi truyền ngôi cho con là Mạc Toàn năm 1592, tổng cộng 30 năm.

Mạc Hậu Hợp sinh năm 1560, là con trưởng của vua Mạc Tuyên Tông. Do Mạc Tuyên Tông bị bệnh đậu mùa mất sớm nêm Mạc Mậu Hợp dù mới chỉ 2 tuổi đã được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi vào tháng 1 năm 1562. Triều chính vẫn do hai ông chú ruột là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Mậu Hợp lên ngôi lấy niên hiệu là Thuần Phúc thứ nhất.

Lợi dụng cái chết của Mạc Tuyên Tông, con nối ngôi là Mạc Mậu Hợp còn thơ dại, trong khi Mạc Kính Điển – một đại thần trụ cột của triều Mạc đã cao tuổi, phía Lê–Trịnh Nam triều bèn liên tiếp mở những cuộc tấn công vào các vùng Trường Yên, Yên Sơn Nam. Kính Điển lại phải thân chinh đốc binh mã chống Lê–Trịnh. Ông tổ chức những trận đánh thọc sâu vào Thanh Hoa (tên cũ của Thanh Hóa), buộc Thái sư phụ chính của Nam triều là Trịnh Kiểm phải lui quân về giữ Tây Đô (Thanh Hoa).

Tháng 9 năm 1566, Trịnh Kiểm lại xuất quân đánh vào vùng Tây Nam rồi vùng Sơn Nam để cướp thóc lúa nhưng bị Kính Điển đánh mạnh phải lui quân về Thanh Hoa. Cuối năm 1567, Trịnh Kiểm ốm nặng, phải trao quyền cho con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng nối giữ chức Thái Quốc công giúp Lê Anh Tông và giao Nguyễn Hoàng trấn thủ cả Thuận Hóa và Quảng Nam.  

Đầu năm 1570, Trịnh Kiểm chết, anh em Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền. Thấy triều Lê Anh Tông lục đục, quan Bố Chính là Lập quận công Mạc Lập Bạo đem quân về đầu hàng Mạc Mậu Hợp. Mạc Kính Điển nhân thế đem hơn 10 vạn quân đánh thẳng vào Thanh Hoa.

Cuộc tấn công Lê – Trịnh của nhà Mạc kéo dài suốt năm 1570 nhưng không phân thắng bại. Trước thế tấn công quyết liệt của Mạc Kính Điển, bị kẹp giữa quân Mạc và quân Trịnh Tùng, Trịnh Cối không chống nổi, liền đem vợ con cùng nhiều tướng lĩnh khác của triều Lê Anh Tông chạy về với nhà Mạc.

Trịnh Tùng cầm quân Nam triều cố gắng cầm cự với quân Mạc. Cuối năm 1570, Kính Điển vì thiếu lương phải rút quân về Đông Kinh. Lê Anh Tông buộc phải trao quyền binh cho Trịnh Tùng và đưa Tùng lên chức Thái úy Trưởng Quốc công vào năm 1571.  

Nam triều lúc bấy giờ chỉ giữ được mỗi Thanh Hóa. Kính Điển đem binh vào đánh Nghệ An nên phía nam sông Lam trở vào Quảng Nam đều thuộc nhà Mạc. Tuy nhiên, nhà Mạc sau đó đánh mất Thuận Hóa. Quảng Nam vì xa cách nên không thể cứu ứng. Tướng Mạc Lập Bạo gặp phải địch thủ lớn là Nguyễn Hoàng nên bị thua trận chết.

Tượng thờ Mạc Mậu Hợp

Mặc dù Nguyễn Quyện và Hoàng quận công Mạc Đăng Lượng đánh thắng quân Lê nhiều lần ở Nghệ An nhưng vì địa thế cách trở, xa Đông Kinh ở Bắc Bộ không tiếp ứng được nên cuối cùng quân chủ lực của Mạc lại phải rút đi. Từ bấy,  quân Mạc yếu thế trước quân Trịnh. Lê-Trịnh được yên phía Nam nhờ sức của Nguyễn Hoàng. Nhà Mạc mất hẳn phía Nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Hà. Trong những năm tiếp theo, Mạc Kính Điển nhiều lần Nam tiến nhưng không thu lại được kết quả gì.

Tháng 10 năm 1580, Mạc Kính Điển lâm bệnh mất sau 34 năm phụ chính (1547-1580) cho các ấu chúa nhà Mạc.  

Cũng cần nói thêm, khi Mạc Mậu Hợp lên làm vua, ít nhất hai lần liền ông bị tai ách hiếm thấy. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Tháng 2, ngày 21, Mạc Mậu Hợp bị sét đánh ở trong cung, bị bại liệt nửa mình, sau chữa thuốc lại khỏi, bèn đổi niên hiệu, lấy năm ấy làm năm Diên Khánh thứ 1”.

Khi Mạc Kính Điển mất, Mạc Mậu Hợp đã trưởng thành. Ông trao quyền Trung doanh Tổng súy Ứng vương cho một ông chú khác là Mạc Đôn Nhượng (em út của Mạc Kính Điển). Song Mạc Đôn Nhượng vốn là người nhu nhược, thiếu tính quyết đoán nên từ ngày được bổ nhiệm (1580) đến 1583 không xuất quân đánh dẹp, trễ nải việc quân, việc triều chính cũng không quán xuyến được như thời Mạc Kính Điển.

Trong khi đó thì Mạc Mậu Hợp lại sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần. Vì thế, nhiều trọng thần, kể cả văn và võ muốn cáo quan về hưu. Mạc Mậu Hợp phải ép buộc họ mới chịu ở lại. Quan Thái bảo Giáp Trưng từng khuyên Mạc Mậu Hợp “Trí túc bất nhục” (Biết đủ thì không nhục) song Mạc Mậu Hợp không nghe theo nên Giáp Trưng xin về.

Đông các Học sĩ Nguyễn Văn Nhuận cũng có lần đã mạnh bạo tâu với Mậu Hợp: “Nếu mọi việc, việc gì cũng không cốt ở sự thực mà chỉ chuộng hư văn, hạ thần sợ rằng việc trong thiên hạ sẽ dồn tới số không hết thảy”. Dù được các đại thần có những lời bàn chí lý nhưng Mạc Mậu Hợp không để tâm. Vì thế việc triều chính của nhà Mạc ngày càng sa sút.

Nhà Mạc tan rã vì một người đàn bà

Nói về thú đam mê tửu sắc, bỏ bê chính sự của Mạc Mậu Hợp, sách “Đại Việt sử ký tục biên” viết: “Ngày càng buông tuồng du đãng, tửu sắc bừa bãi”. Còn sách “Đại Việt thông sử” thì bình: “Ngoài thì họ ngoại chuyên chính, trong thì hoạn quan chuyên quyền”. Thậm chí, đến cả vợ của quan viên mà thấy dung nhan đẹp đẽ, Mậu Hợp cũng có ý định cướp lấy cho mình.

Chuyện rằng, Mạc Mậu Hợp trước đó lập Nguyễn Thị lên ngôi chính cung. Nguyễn Thị có chị gái là Nguyễn Thị Niên, se duyên tơ tóc cùng Sơn quận công Bùi Văn Khuê. Thị Niên thỉnh thoảng ra vào hậu cung để thăm em gái. Vua Mạc, vốn đam mê sắc dục, thấy chị gái của vợ xinh đẹp thì nổi lòng muốn chiếm đoạt nên tìm cách giết Văn Khuê.

Năm Nhâm Thìn (1592), Bùi Văn Khuê biết dã tâm của Mạc Mậu Hợp, cũng là chúa của mình, nên đề phòng, liền đem quân rút về đóng nơi đất Gia Viễn, Ninh Bình, không chịu vào chầu. Thấy thế, Mạc Mậu Hợp sai quân vào Gia Viễn, bức bách buộc Văn Khuê phải vào Thăng Long chầu thiên tử.

Biết thế đã cùng không thể phò tên chúa muốn cướp vợ mình, Văn Khuê sai con trai là Văn Nguyên chạy vào Thanh Hoa, dâng lễ đầu hàng và xin cứu viện. Trịnh Tùng ưng thuận cho hàng và mừng rỡ nói: “Văn Khuê đầu hàng, thế là trời giúp cho ta được chóng thành công”. Nói thế, bởi Văn Khuê là một vị tướng tài của Bắc triều (triều Mạc) lúc bấy giờ.

Vậy là Bùi Văn Khuê theo về với vua Lê, chúa Trịnh chống Mạc, còn vua Mạc Mậu Hợp, chỉ vì một người đàn bà, mà tự chặt đứt cánh tay phải đắc lực của mình trong cuộc đối địch với Nam triều. Không những thế, lại giúp cho Trịnh Tùng có thêm một tên kiệt tướng, chính là kẻ dưới trướng bấy lâu của mình.

Đền vua Lê nằm trong quần thể khu di tích lịch sử thành Nà Lữ

Chính sự bỏ bê triều chính, đam mê sắc tửu nên kết cục là đến cuối năm Nhâm Thìn (1592), quân Mạc bị quân Lê – Trịnh đuổi đánh, Mạc Mậu Hợp phải chạy khỏi kinh thành. Trước khi sụp đổ, Mạc Mậu Hợp đã sai người đem lễ vật đến thăm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và xin hỏi về thế cuộc. Trạng Trình chỉ đáp một câu ngắn gọn: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể”. (Nghĩa là đất Cao Bằng tuy là chật hẹp nhưng có thể giữ được về sau).

Khi rời Thăng Long chạy loạn tránh thế mạnh của quân Lê – Trịnh, lúc ấy, quan tướng, quân lính lìa bỏ hết, Mậu Hợp thế cùng phải giả vào chùa làm nhà sư hòng qua mắt sự truy sát của quân lính nhà Lê, nhưng tiếc nỗi, mưu sự không thành. Sự thể được Lê Quý Đôn ghi lại trong “Đại Việt thông sử”.

Theo đó, khi Tiết chế Trịnh Tùng từ sông Tranh về kinh thành, nghe có người báo, Mậu Hợp ẩn ở chùa Mô Khuê, huyện Phượng Nhãn, Trịnh Tùng được tin mừng lắm, bèn sai Trà quận công Nguyễn Đình Luân và Liêm quận công Lưu Chản, dẫn quân đi bắt. Đến vùng ấy, được dân địa phương cho biết: “Hôm nọ Mậu Hợp giả làm sư ông, đến ẩn ở đây, đến nay đã 11 ngày”.

Quân sĩ được người dân chỉ, bèn đến chùa, thấy Mậu Hợp nghiễm nhiên ngồi xếp bằng, gạn hỏi, thì Mậu Hợp đáp rằng: “Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối đĩa rau, hằng ngày trai dưỡng, thắp hương thờ Phật, công đức chuyên làm”. Quân sĩ thấy nhà sư nói hoạt bát, biết là Mậu Hợp, bèn bắt giữ. Mậu Hợp tự liệu không thể thoát được, bèn thú thực: “Mấy ngày trước đây, tôi chạy trốn ẩn núp ở trong rừng rậm, đã quá đói khát, dám xin cho một bình rượu uống cho đã”.

Quân sĩ nghe vậy, bèn cho bình rượu. Sau khi Mậu Hợp uống thỏa thích, mới ngậm ngùi than rằng: “Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vậy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước hoàng đế, để bày tỏ thực tình. Đó là lòng tôi rất mong muốn”. Lời lẽ ấy, chính là lời chiêm nghiệm của vua Mạc sau bao mê muội.

gạn hỏi, thì Mậu Hợp đáp rằng: “Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối đĩa rau, hằng ngày trai dưỡng, thắp hương thờ Phật, công đức chuyên làm”. Quân sĩ thấy nhà sư nói hoạt bát, biết là Mậu Hợp, bèn bắt giữ. Mậu Hợp tự liệu không thể thoát được, bèn thú thực: “Mấy ngày trước đây, tôi chạy trốn ẩn núp ở trong rừng rậm, đã quá đói khát, dám xin cho một bình rượu uống cho đã”.

Quân sĩ nghe vậy, bèn cho bình rượu. Sau khi Mậu Hợp uống thỏa thích, mới ngậm ngùi than rằng: “Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã làm sự giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vậy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước hoàng đế, để bày tỏ thực tình. Đó là lòng tôi rất mong muốn”. Lời lẽ ấy, chính là lời chiêm nghiệm của vua Mạc sau bao mê muội.

Các tướng bèn sai dùng voi chở Mậu Hợp và hai kỹ nữ giải về Thăng Long. Khi giải Mậu Hợp đến trước hành doanh, phủ tiết chế sai dàn binh mã cực kỳ uy nghiêm, rồi mới cho dẫn Mậu Hợp vào yết kiến. Mạc Mậu Hợp lễ dập đầu phủ phục ở ngoài sân, phủ tiết chế truyền hỏi tới 3 lần mà Mậu Hợp vì quá sợ, cứ ấm ớ không thể đáp được.

Phủ tiết chế bèn sai dẫn ra ngoài cửa quân, giam tù tại đây. Tất cả các quan văn võ đều bàn: “Chiếu điều luật, những kẻ phạm tội thoán thí (giết vua cướp ngôi) thì xử theo luật “lăng trì” (tùng xẻo), để làm gương cho mọi người và đúng phép nước; lại đem thủ cấp tế cáo nhà tôn miếu, để rửa sự sỉ nhục của tiên vương và bớt cơn giận của thần nhân”.

Trịnh Tùng thấy kẻ đối địch với mình giờ đã sa cơ lỡ vận, lấy làm thương xót, không nỡ gia cực hình, bèn sai đem treo sống Mậu Hợp 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề rồi đem thủ cấp dâng lên vua Lê Thế Tông ở Vạn Lại – Thanh Hóa. Nhà vua ra lệnh đem đóng đinh vào hai con mắt Mạc Mậu Hợp bêu ra ngoài chợ.

Mạc Mậu Hợp chết, người con trai là Mạc Toàn xưng hiệu là Vũ An vẫn tìm cách chống lại quân Nam triều. Tuy nhiên, do lòng dân không thuận, các tướng sĩ cũng chẳng còn ai nên phải sống trong cảnh thân cô thế cô, một mình tìm cách lẩn trốn. Không lâu sau thì Mạc Toàn cũng bị quân Nam triều bắt được, đem chém đầu tại bến Thảo Tân.

Như vậy, triều Mạc từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp, truyền ngôi được 5 đời thì tan rã, tổng cộng được 66 năm. Số phận bi thảm của Mạc Mậu Hợp chính là điển hình của luật nhân quả, nghiệp báo.

Sau khi Mạc Mậu Hợp mất, nhà Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi thành Thăng Long và bị truy đuổi tứ tán. Con cháu nhà Mạc nghe theo lời chỉ dẫn của Trạng Trình đã chạy về cố thủ ở đất Cao Bằng và tồn tại thêm 96 năm nữa mới bị thôn tính, mất hẳn. Sử nhà Lê chép rằng, tháng 7 năm 1594, Đà quốc công nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn trước khi qua đời để lại thư khuyên Mạc Kính Cung rằng: “Nay, khí vận nhà Mạc đã cạn, họ Lê hưng phục. Đó là bởi số trời đã định như vậy”.

Mảnh đất “tụ khí tàng phong”

Theo các nhà phong thủy, những bậc thầy về địa lý thì Cao Bằng là đất dung thân hiểm yếu, ẩn náu của bậc đế vương, nơi xuất phát của những cơn sấm sét về xuôi. Chính vì thế, từ thời Đường Ý Tông (Trung Quốc), khi Cao Biền xâm lăng nước ta đã cho xây thành Đại La (ở Thăng Long – Hà Nội) và thành Nà Lữ (ở Cao Bằng). Sau này thành Nà Lữ trở thành cung điện của các vua, chúa địa phương như: Nùng Tồn Phúc, Bế Khắc Thiệu, Mạc Kính Cung…

Thành xây ở làng Nà Lữ (còn có tên gọi là Nà Lẩu) thuộc xã Hoàng Tung, huyện Hòa An. Sau này được các triều đại tiếp tục trùng tu, tôn tạo, nhất là vào thời kỳ nhà Mạc cát cứ ở Cao Bằng. Thành trước đây được làm bằng đất, đến thời Mạc Kính Cung, con trai của Mạc Mậu Hợp thất thế chạy lên đây thì được sửa chữa, tu bổ thêm bằng đá. Thành được xây theo hình tứ trụ, tổng diện tích 21.060m2.

Vật liệu là gạch vồ, chân thành được kê bởi các tảng đá to và phẳng, cổng thành làm bằng loại gỗ nghiến to, dày, rất kiên cố. Thành có bốn cửa: cửa Đông thông ra sông Mãng, cửa Tây thông ra cánh đồng Nà Thính, cửa Nam thông ra cánh đồng Nà Lữ, phía Bắc giáp với Khau Phước thông ra hệ thống chiến lũy núi Khắc Thiệu.

Ba đời vua Mạc ở Cao Bình (1594 – 1677), chọn nơi thiết triều ở thành Bản Phủ – Cao Bình, nhân dân hầu hết thuận phục nhà Mạc. Cung điện vua Mạc ở trong thành Nà Lữ gọi là thành Lua hiện vẫn còn dấu tích chân móng tường thành, còn bát hương ghi Đại Mạc hoàng đế. Nhà Mạc đã kết nối bang giao hữu hảo với nhà Thanh, mở rộng thông thương, dân hai bên biên giới đi lại mua bán thuận tiện ở các chợ thành Cao Bình và các chợ biên giới.

Trải qua 85 liên tục, nhà Mạc ở Cao Bình đã tạo dựng được một trật tự xã hội, một nhà nước có kỷ cương, mở mang dân trí, đối nội, đối ngoại kịp thời có cách ứng xử cương nhu tùy lúc, đủ sức chống cự với các cuộc chinh phạt liên miên của nhà Lê – Trịnh.

Sau khi quân Lê – Trịnh đuổi quân Mạc chạy sang Trung Quốc, Cao Bằng trở thành một trấn của nhà Lê, trấn thủ thành Nà Lữ là Lê văn Hải đã sửa chữa thành và xây đền vua Lê Thái Tổ tại đây. Bên trong thành đắp 4 gò đất nổi lên được đặt tên là: Gò Long, Gò Ly, Gò Quy, Gò Phượng. Gò Long được đặt làm gò chính, dân địa phương gọi là Gò Rồng, cung điện xây đặt ở gò này. Còn các gò khác là nơi các đại thần, quân cơ đóng. Ở giữa thành có ao sen, các thửa ruộng hình bàn cờ. Nhìn quang cảnh vùng Nà Lữ từ ngọn núi Bế Khắc Thiệu xuống trông như một họa đồ rất đẹp có thế của hình chữ vương vững chãi. Xưa Trạng Trình đã đến xem xét thế đất này.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nên cơ bản thành đã bị phá huỷ không còn xác định được mặt cắt của thành cũ, bốn cổng đã bị lấp đất toàn bộ chỉ còn lại một đoạn thành đất ở phía Đông. Và trên nền thành cổ còn sót lại cái góc cuối cùng của ngôi đền thờ vua Lê cùng vết tích nền thành, lò vôi, vườn đạn đá, gạch vồ, nền cung điện xưa.

Cần ghi nhận thêm, đến thời hiện đại, Cao Bằng vẫn là mảnh đất “huyền thoại” về hai phương diện lịch sử và địa lý phong thủy. Vì Cao Bằng có hang Pắc Bó là nơi chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ 1941 – 1945, có rừng Trần Hưng Đạo ở xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, là nơi đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22 tháng 12 năm 1944 – là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Xem thế từ Cao Biền, đến thời Lê – Mạc, cho tới nay đất Cao Bằng vẫn là nơi “tụ khí tàng phong” hết sức cát tường theo cách nhìn phong thủy.

Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 3)

Vùng đất xứ Thanh tự hào đã sản sinh ra hai vị hoàng đế anh hùng mà tên tuổi đã đi vào lịch sử dân tộc, đó là Lê Đại Hành và Lê Thái Tổ. Cả hai vị hoàng đế anh hùng ấy đều sinh ra ở đất Thanh Hóa, trong đó, địa danh Lam Sơn được rất nhiều các bậc thầy phong thủy nhắc đến như là vùng đất địa linh sản sinh ra nhân kiệt.

Read more

(Còn nữa)

Hoàng Anh Sướng

Bình luận

Bạn có thể quan tâm