Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 6)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 8:00 31/05/2019 |

Năm 1558, Nguyễn Hoàng tròn 34 tuổi, đã đem gia quyến cùng tùy tướng của mình chỉ huy hàng nghìn quân bản bộ vượt biển để lại dải Hoành sơn phía sau, tiến về phương Nam ở phía trước, vào thẳng cửa Yên Việt, đóng dinh ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị ngày nay.

Kỳ 6: Nhà Nguyễn và vùng đất vương gia như sấm truyền

Khu lăng mộ chúa Nguyễn Hoàng

“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”


Nguyễn Kim vốn là Điện tiền tướng quân của nhà Lê, là người có công lớn trong việc tập hợp quân tướng khởi nghĩa chống nhà Mạc và giúp nhà Lê giành được đất Thanh Hóa, Nghệ An – lập nên triều Lê trung hưng. Sau này, Nguyễn Kim đã thâu nạp, trọng dụng và gả con gái của mình là Nguyễn Thị Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm.

Cuộc hôn nhân này chính là bệ phóng đưa Trịnh Kiểm lên đỉnh cao quyền lực. Vì khi Nguyễn Kim mất (bị hàng tướng nhà Mạc đầu độc) toàn bộ binh quyền chuyển qua tay Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm năm ấy 42 tuổi, quyền uy rất lớn, lập hành điện ở Thanh Hóa cho vua Lê ở, chiêu tập hào kiệt làm chủ giang sơn phía Nam từ Thanh Hóa trở vào (gọi là Nam triều) để chống lại nhà Mạc bấy giờ vốn đang làm chủ vùng đất từ Sơn Nam trở ra (gọi Bắc triều).


Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Năm 1527, khi xảy ra sự biến Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê Cung Hoàng, Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi. Nguyễn Kim đã để Nguyễn Hoàng lại cho người anh vợ là Thái phó Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng để tránh sang Lào, xây dựng lực lượng, tìm cách khôi phục nhà Lê. Nguyễn Hoàng được Nguyễn Ư Dĩ hết lòng bảo hộ.

Khi lớn lên, thường được Nguyễn Ư Dĩ khuyến khích xây dựng, phát triển sự nghiệp. Khi làm quan cho triều Lê, Nguyễn Hoàng được phong làm Hạ khê hầu và cử quân đánh nhà Mạc, lúc ấy trong tay vua Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh). Nguyễn Hoàng chém được tướng Mạc là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn. Khi khải hoàn được vua Lê Trang Tông khen rằng: “Thực là cha hổ sinh con hổ”.
Năm 1545, Vua Trang Tông phong Trịnh Kiểm là

m Thái sư. Nguyễn Uông làm Tả tướng Lãng quận công. Còn Nguyễn Hoàng vì lập chiến công cao nên được phong làm Đoan quận công. Trịnh Kiểm lo sợ các con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh mất quyền của mình nên đã tìm cách ám hại Nguyễn Uông trước.

Thế là trong cùng một năm, họa vô đơn chí, Nguyễn Hoàng mất hai người thân. Trước là cha bị đầu độc chết, giờ là anh trai bị giết. Nguyễn Hoàng rất lo sợ, xem mình như chim trong lồng, cá trong chậu, sớm muộn sẽ có ngày bị ám hại như anh mình. Để thoát khỏi tình trạng nguy hiểm này, Nguyễn Hoàng bèn nghĩ cách cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo hơn để Trịnh Kiểm khỏi nghi ngờ. Sau khi bàn mưu với cậu là Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng bí mật sai sứ giả tìm cách lặn lội ra ngoài Bắc, đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin sấm giải.

Thư tịch Nguyễn Hoàng gửi cho chính quyền Tokukawa Mạc Phủ Nhật Bản

Trạng Trình nhìn hòn non bộ ở trước sân mà ngâm lớn rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Nghĩa là, một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được. Khi sứ giả về thuật lại câu ấy, Nguyễn Hoàng hiểu ý ngay.
Bình yên nhờ… mảnh đất cằn

Nghe theo lời dạy của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hoàng nhờ chị ruột là Nguyễn Thị Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, xin với Trịnh Kiểm cho mình vượt Hoành sơn vào trấn thủ vùng Thuận Hóa (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế ngày nay) để thoát khỏi vòng kiềm tỏa nguy hiểm của người anh rể họ Trịnh. Vùng đất Thuận Hóa bấy giờ mới được dẹp yên.

Nhà Lê đã đặt Tam ty, phủ huyện để cai trị nhưng lòng dân vẫn chưa yên. Trịnh Kiểm vẫn còn băn khoăn về vùng đất này. Song nhận thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, lên tâu vua Lê Anh Tông nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất đó. Vua Lê nghe theo và trao cho trấn tiết, phàm mọi việc đều ủy thác, chỉ cần mỗi năm nộp thuế là đủ.


Năm 1558, Nguyễn Hoàng tròn 34 tuổi, đã đem gia quyến cùng tùy tướng của mình chỉ huy hàng nghìn quân bản bộ vượt biển để lại dải Hoành sơn phía sau, tiến về phương Nam ở phía trước, vào thẳng cửa Yên Việt, đóng dinh ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị ngày nay. Do quân Mạc thường theo đường biển vào cướp Thanh Nghệ nên để đề phòng, mùa đông năm 1560, Nguyễn Hoàng cho đặt đồn cửa biển giữ miền duyên hải.

Tháng 3 năm 1568, Tổng trấn Quảng Nam là Bùi Tá Hán mất. Vua Lê lấy Nguyễn Bá Quýnh làm tổng binh thay giữ đất ấy. Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm hài lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam, thay cho Quận Công Nguyễn Bá Quý‎nh. Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa. Lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.


Năm 1570, nhà Mạc giao tranh với họ Trịnh. Mạc Mậu Hợp sai Mạc Kính Điển đem thủy quân tấn công Nghệ An. Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Bá Quýnh nghe tin rút chạy tới nơi an toàn. Nguyễn Hoàng kỷ luật rõ ràng, phòng giữ nghiêm ngặt do đó quân nhà Mạc không dám phạm vào bờ cõi nên riêng hai xứ Thuận, Quảng được yên ổn.


Năm 1571, Tham đốc Mỹ Lương, thự vệ Văn Lan và Nghĩa Sơn định đánh úp Nguyễn Hoàng ở dinh Vũ Xương. Mỹ Lương sai Văn Lang và Nghĩa Sơn đem quân phục ở huyện Minh Linh rồi tự mình dẫn quân lẻn theo đường núi đến chỗ Cầu Ngói ở Hải Lăng mai phục, định ngày giáp đánh. Nguyễn Hoàng biết được liền sai phó tướng Trương Trà đánh Nghĩa Sơn rồi tự mình đem quân ngầm đến Cầu Ngói đánh úp Mỹ Lương và đốt trại. Mỹ Lương trốn chạy, bị Nguyễn Hoàng đuổi kịp chém chết.

Tướng Trương Trà tiến quân đến xã Phúc Thị, đánh nhau với quân nổi loạn, bị Nghĩa Sơn bắn chết. Vợ Trương Trà là Trần Thị nghe tin nổi giận, nén nỗi đau, mặc quần áo đàn ông thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn tại trận. Quân Văn Lang thua, trốn về với Chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng đem quân về, phong Trần Thị làm quận phu nhân.


Năm 1572, nhân lúc Trịnh Kiểm mới mất, con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền lực đánh nhau, nhà Mạc bèn sai tướng Lập Bạo đem 60 chiến thuyền tiến vào Thuận Hóa, đổ bộ lên làng Hồ Xá và làng Lạng Uyển (thuộc huyện Minh Linh) để tấn công phủ. Dân ở Thuận Quảng nhiều người hàng.

Nguyễn Hoàng tìm ra kế sách, sai một người con gái đẹp là Ngô Thị mang vàng bạc sang nói với Lập Bạo xin cầu hòa. Lập Bạo đồng ý giảng hòa, chỉ mang vài chục tùy tùng đến một ngôi đền tranh bên bờ sông ở đất Qua Qua để dự thề. Nguyễn Hoàng bèn sai phục binh giết chết và đánh tan quân nhà Mạc. Quân Mạc xin đầu hàng. Nguyễn Hoàng cho những binh lính đầu hàng ở đất Cồn Tiên, đặt làm 36 phường. Từ đó, nhà Mạc không dám nhòm ngó đất Thuận Quảng nữa.

Chiến công lẫy lừng


Tháng giêng năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đi đánh bại Mạc Mậu Hợp, lấy lại được Đông Đô. Tháng 5 năm 1592, Nguyễn Hoàng ra Bắc yết kiến Trịnh Tùng, Trịnh Tùng phong ông làm Trung quân đô đốc phủ tả đốc chưởng phủ sự thái úy Đoan quốc công. Sau đó, Nguyễn Hoàng ở lại giúp Trịnh Tùng đánh dẹp các cuộc chống đối của họ Mạc và các cuộc phản loạn khác.

Bấy giờ, tướng Mạc là Kiến và Nghĩa có tới mấy vạn quân. Kiến chiếm giữ phủ Kiến Xương, đắp lũy đất ở bên sông, Nghĩa chiếm giữ huyện Thanh Lan (nay là huyện Thanh Quan), cắm cọc gỗ ở sông Hoàng Giang để chống cự nhà Lê. Tướng nhà Lê là Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên đánh không được. Nguyễn Hoàng đốc xuất tướng sĩ, thống lãnh chiến thuyền của thủy quân các xứ nối tiến, dùng hỏa lực và đại bác đánh phá tan, chém chết tướng Kiến và Nghĩa tại trận, giết và bắt sống hàng vạn tên. Trấn Sơn Nam (nay là Nam Định) được dẹp xong. Mạc Kính Chương lại cùng đồ đảng chiếm giữ Hải Dương. Nguyễn Hoàng dời quân sang đánh dẹp được.


Tháng 5 năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ núi Yên Tử, đánh cướp huyện Vĩnh Lại. Nguyễn Hoàng đem thủy quân tiến đến Hải Dương đánh phá được. Mạc Ngọc Liễn thua chạy, chết ở châu Vạn Ninh. Tháng 9 năm đó, Mạc Kính Dụng (tự xưng Uy vương) sai hai tướng Văn và Xuân đánh úp Thái Nguyên. Nguyễn Hoàng đem đại binh đánh quân Mạc ở huyện Võ Nhai, dẹp yên.

Mùa đông 1594, tướng làm phản nhà Lê là Vũ Đức Cung cướp phá các huyện thuộc Sơn Tây và lùa những cư dân hai huyện Đông Lan và Tây Lan (nay là Hùng Quan và Tây Quan) vào đất Đại Đồng. Nguyễn Hoàng lĩnh thủy quân cùng Thái úy nhà Lê là Nguyễn Hữu Liêu dẫn bộ binh cùng tiến, thẳng tới Đại Đồng, giáp đánh phá được. Đức Cung chạy đến đất Nghĩa Đô.


Năm 1595, nhà Lê thi tiến sĩ, Nguyễn Hoàng được cử làm đề điệu. Năm 1595, 1596, 2 lần Nguyễn Hoàng hầu vua Lê đi Lạng Sơn thiết lập bang giao với nhà Minh. Việc thành, Bắc Nam thông hiếu. Tháng 3 năm 1598, Nguyễn Hoàng đem thủy quân đánh dẹp Hải Dương, phá tan quân thổ phỉ ở dãy núi Thủy Đường, bắt được đồ đảng đem về.

Gây dựng cơ đồ nhờ nghe lời Trạng Trình


Tính đến năm 1600, Nguyễn Hoàng đã ở lại Đông Đô được 8 năm, đánh dẹp bốn phương đều thắng. Vì có công to nên họ Trịnh ghét. Tám năm ở lại Đông Đô, 2 người con của Nguyễn Hoàng là công tử thứ 2 tên Hán và công tử thứ 4 tên Diễn chết trận. Gặp lúc tướng nhà Lê là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa Đại An (nay thuộc Nam Định), Nguyễn Hoàng nhân dịp đem quân tiến đánh, liền đem cả tướng sĩ thuyền ghe bản bộ, đi đường biển thẳng về Thuận Hóa, để con thứ năm là Hải và cháu nội là Hắc ở lại làm con tin. Trịnh Tùng ngờ Nguyễn Hoàng vào chiếm Thanh Hóa, bèn đưa vua Lê chạy về Thanh Hóa để giữ vững căn bản. Đi đến huyện An Sơn, công tử Hải đón đường nói rằng: Nguyễn Hoàng về Thuận Hóa, chỉ nghĩ việc bảo vệ đất đai, thực không có ý khác. S

Sau khi Nguyễn Hoàng trở về, Trịnh Tùng đã gửi thư dọa trách: “Mới đây, bọn nghịch thần Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga manh tâm bội phản. Cháu và cậu đã lo liệu việc binh, sai đi đánh dẹp, chẳng ngờ cậu không đợi mạng, tự ý bỏ về, làm dao động nhân dân. Không biết ấy là ý của cậu hay là mắc kế bọn kia… Cậu, trong việc binh, thường lưu tâm đến kinh sử, xin hãy xét nghĩ lại, đừng để hối hận về sau”.

Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư nhận lỗi, lấy thóc lúa vàng bạc ra Bắc cống nộp cho Trịnh Tùng và hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con cả của Trịnh Tùng. Từ đó, Nguyễn Hoàng không ra chầu ngoài kinh nữa, quyết “rạch đôi sơn hà”, lo phát triển cơ sở, mở mang bờ cõi, phòng bị quân Trịnh vào đánh phá.

Tượng thờ chúa Nguyễn Hoàng


Nguyễn Hoàng mất năm Quý Sửu 1613, thọ 89 tuổi, trấn thủ đất Thuận Hóa – Quảng Nam trong 56 năm (được truy tôn: Thái tổ Gia dụ hoàng đế), có 10 người con trai, trước khi mất dặn lại con cháu phải hết sức giữ gìn đất Thuận Quảng. Vì đó là nơi phía Bắc có Hoành Sơn với thế núi chắn ngang che chở, phía Nam có Hải Vân hùng vĩ là yết hầu đưa sinh khí vào “vùng đất vương gia” (tức kinh thành Phú Xuân- Huế sau này). Có giữ vững Thuận Quảng mới mong dựng nên cơ nghiệp muôn đời như sấm ký của Trạng Trình truyền lại: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.


Theo nhà viết sử Trần Trọng Kim, núi Hoành Sơn tức núi Đèo Ngang ở Quảng Bình vốn là một nhánh của dãy Trường Sơn đột nhiên kéo đâm ra sát biển. Đứng từ đỉnh cao nhất của Hoành Sơn (khoảng 250m) nhìn bao quát sẽ thấy hiện lên dưới tầm mắt màu xanh ngút ngàn của rừng núi phía Tây, biển rộng mênh mông trải dài như tấm thảm xanh về phía Đông, thấp thoáng những hòn đảo nhỏ nhô lên mặt nước như đang chầu về “sơn lâm”.

Con đường xuyên Đèo Ngang thời trước nằm trên đường thiên lý, cách Đồng Hới khoảng 80 cây số, chạy ngoằn ngoèo qua các sườn đồi cheo leo, men theo vực sâu, đưa người hành trình theo chiều dọc từ hướng Bắc vào Nam. Nhìn dưới góc độ phong thủy, Hoành Sơn đi vào các tài liệu nghiên cứu về địa lý xưa và cả thời nay. Ngay các tác giả người nước ngoài như học giả Léopold Cadière, chủ bút tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue, khi luận về các chi tiết phong thủy ứng dụng xây kinh thành Huế đã nhắc đến “Hoành Sơn che chở” từ xa đối với nhà Nguyễn.

Những nhà sử học, địa lý học khi viết đến lịch sử triều Nguyễn đều nhắc “Hoành Sơn” thời khởi nghiệp. Nhà phong thủy học Cao Trung khi luận về long mạch trong “Tả Ao địa lý toàn thư” đã đưa Hoành Sơn vào nội dung phân tích và nêu rõ hai phần trong khoa địa lý gồm: Loan đầu và Lý khí. Phần Loan đầu là những gì mắt ta nhìn thấy trên đất đai của toàn thể một cuộc đất kết, hoặc một dòng nước thuận nghịch, một thế núi quanh co.


Như vậy, nếu cơ nghiệp chúa Trịnh mở đầu với mối liên hệ về một cuộc đất thuộc vùng “thủy” (nước) thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mở đầu với mối liên hệ thuộc vùng “sơn” (núi). Nói về sơn, cụ Tả Ao diễn giải, nếu thấy núi hình thành theo dạng “một vòng bọc lại” (nhất trùng bão khóa) rồi “một vòng mở ra” (nhất trùng khai) thì ở đó có đất công hầu. Nếu lại thấy một dạng núi “vòng ôm” (nhất sơn loan bão) rồi “ngoảnh lại” (nhất sơn cố) là ở đó có đất công khanh.

Trong tập “Địa lý gia truyền”, cụ Tả Ao cũng chỉ rõ: nếu thấy núi cao bao quanh một vùng thì hãy tìm huyệt ở chỗ thấp (chúng sơn cao tầm đê), còn chung quanh đều thấp thì hãy tầm huyệt ở chỗ cao (chúng sơn đê tầm cao).

Đối chiếu và liên tưởng tới trường hợp “Hoành Sơn”, những chỉ dẫn phong thủy và địa lý nêu tổng quát ở trên cũng cho ta thấy qua phần “loan đầu” (có thể nhìn trực tiếp bằng mắt để đoán định), sau đó đến phần “lý khí” (liên quan đến lý học, thiên văn). Chắc hẳn những gì nêu trong “Thái ất thần kinh” đã được nhà tiên tri lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vận dụng, cộng với khả năng thiên phú, Trạng Trình đã chỉ đúng con đường phải đi cho chúa Nguyễn.

Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 5)

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sở dĩ có được danh tiếng và tài tiên tri như thần không ai sánh kịp là bởi bên cạnh tài năng thiên phú “bất khả tư nghì”, ngay từ thời niên thiếu, ông đã được nuôi dưỡng bởi hai người thầy lớn trong đời. Đó là người mẹ Nhữ Thị Thục và Bảng nhãn Lương Đắc Bằng

Read more

(Còn nữa)

Hoàng Anh Sướng

Bình luận

Bạn có thể quan tâm