Một lần đột nhập “Rừng Ma”

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 1:54 30/01/2020 |
rừng ma 2
Một cỗ quan tài trong “Rừng Ma”

Từ một phát hiện tình cờ về “Rừng Ma” bí hiểm

Năm 2000, trong một lần tới toà soạn Báo Kon Tum, tôi gặp anh Phan Thanh Bàng, cán bộ Bảo tàng Kon Tum mang một bài viết đến đưa cho anh Hà Xuân Vinh, thư ký toà soạn đề nghị đăng. Bài viết mới chỉ ở dạng bản thảo nhưng đã gây nên một cú chấn động bởi câu chuyện khó tin. Trên đường đi sưu tầm hiện vật, anh Phan Thanh Bàng ngồi nghỉ bên con dốc đá có cái tên rất rợn: Dốc Ma, thuộc xã Đăk Long, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.

Bỗng anh cảm thấy xây xẩm mặt mày bởi không khí oi nồng ngột ngạt bốc ra ngùn ngụt từ khu rừng. Tò mò, anh tiến vào và choáng váng khi nhìn thấy rất nhiều quan tài độc mộc được treo lơ lửng trong rừng rậm… Những bức ảnh anh Bàng chụp được đã khiến nhiều người lắc đầu lè lưỡi vì sợ. Máu phiêu lưu nổi lên, tôi đã mấy lần tìm cách vào “Khu rừng Ma” ấy nhưng bất thành.

Năm 2007, tôi có dịp đến xã Đăk Long và cùng mấy chiến sĩ biên phòng tìm đến nhà của cụ A Jap – một người già nhất ở làng Vai Trang. Cụ năm đó hơn 90 tuổi, nhưng theo cách tính của người Jẻ – Triêng thì cụ mới chỉ… 7 tuổi thôi. Bởi người Jẻ -Triêng tính tuổi theo mùa rẫy, cứ khoảng 13 mùa rẫy thì đánh dấu một khấc lên cột nhà và tính là một tuổi. Cụ A Jap đã yếu lắm rồi, hàng ngày chỉ nằm một chỗ hút rượu cần, nhưng khi biết tôi muốn tìm hiểu nguồn gốc tục táng treo, cụ vui vẻ ngồi dậy.

Cái miệng cà răng sát tận lợi bắt đầu phóm phém kể một câu chuyện: Từ lâu rồi, có một nhà có hai anh em trai. Khi bố mẹ chết, hai anh em chia nhau tài sản và ra ở riêng. Người anh vốn khôn ranh nên làm nghề buôn người. Hễ trong làng có người nào lười biếng, neo đơn thì bắt sang đổi cho người Lào lấy trâu, chiêng ché quí đem về. Người em thật thà chất phác nên dùng số của cải được chia để đổi trâu bò gà heo về chăn, mua hạt giống về trỉa.

Một thời gian sau cả hai anh em đều trở nên giàu có nhưng dân làng không biết ai giàu hơn ai. Người anh bèn nghĩ ra một cách và nói với người em rằng: Nếu ai xây được một cái nhà mà tường bằng thịt trâu thì người đó được coi là giàu hơn. Người em nhận lời. Họ mời dân làng đến uống rượu chứng kiến cho cuộc thi.

Người anh hùng hổ cắt từng tảng thịt lớn ném lên khung nhà đã được dựng bằng lồ ô. Những miếng thịt trâu tươi ròng bay vù vù, chạm khung lồ ô rồi rớt bịch xuống đất, máu me ngập ngụa. Cậy nhà nhiều trâu, người anh ngả hết con trâu này tới con khác với quyết tâm chiến thắng điên cuồng.

Nhưng suốt một ngày mà những “bức tường thịt” của người anh cứ xây lại đổ. Còn người em thì chỉ ngả một con trâu, khéo léo thái thịt thành những miếng rộng bản, mỏng đẹp như phiến lá. Người em tung những miếng thịt đều tăm tắp lên, chúng nhẹ nhàng bay loang loáng và đậu dính vào vách như những bông hoa rừng tươi rói trong tiếng trầm trồ của dân làng.

Chẳng mấy chốc ngôi nhà của người em đã được xây xong. Người anh thua cuộc cay cú nói: “Nó là đứa nghèo hơn tôi nên mới phải thái thịt trâu mỏng như thế. Dù nó thắng cuộc nhưng tôi mới là người giàu nhất làng. Ai muốn giàu có thì theo tôi đi lập làng khác”.

Dân làng chia làm hai nhóm. Nhóm theo người em tìm đến một con suối có nhiều lau lách thì dừng lại lập nên làng Vai Trang. Vai Trang, tiếng Jẻ – Triêng có nghĩa là con suối có nhiều lau lách. Làng Vai Trang lấy trồng trọt và chăn nuôi làm nghề chính, sống đoàn kết vui vẻ với các làng khác xung quanh.

Nhóm theo người anh lập làng sát biên giới hành nghề buôn bán nên rất nhanh giàu. Nhưng rồi một ngày kia, ngôi làng của người anh đã xảy ra tranh chấp và đã bị một bộ tộc khác mang gươm giáo đến giết sạch. Còn làng Vai Trang của người em thì cuộc sống mãi bình yên bên cạnh con suối hiền lành đến tận bây giờ.

Để ghi nhớ công ơn của người thủ lĩnh có đức tính cần kiệm khiêm tốn đã mang lại hạnh phúc lâu bền, khi ông qua đời, dân làng Vai Trang khiêng ông ra rừng rồi khóc lóc thảm thiết bao nhiêu ngày mà không nỡ chôn. Họ cho rằng một người đáng kính như ông không thể chôn xuống đất cho con giun con dúi con kì đà ăn mất nên bèn nghĩ ra cách treo chiếc quan tài lên cây để không con gì có thể ăn được, như thế linh hồn người thủ lĩnh sẽ ở mãi với dân làng. Đó là ngôi mộ treo đầu tiên ở làng Vai Trang.

Chỉ người giàu mới đủ điều kiện để… táng treo

Sau khi ngồi hỏi chuyện cụ già A Jap, chúng tôi kéo đến nhà ông A Nhôm, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Đăk Long. Khi tôi bày tỏ muốn tìm hiểu về tục lệ táng treo dưới góc độ văn hoá, ông A Nhôm cho biết, tục táng treo nơi đây thực ra mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn tâm linh. Làng Vai Trang trong câu chuyện cổ mà cụ già A Jap đã kể đến nay là cả một thời gian dài ngút ngát không xác định.

Từ ngôi mộ treo đầu tiên xuất phát bởi lòng tôn kính vị thủ lĩnh lập làng cho đến nay đã có cả hàng trăm ngôi mộ treo nhưng người chết hoàn toàn không phải là một già làng hay một nghệ nhân tài giỏi, mà đơn giản chỉ là… những người giàu! Theo lời ông A Nhôm, chỉ có những nhà giàu mới đủ điều kiện để tổ chức táng treo cho người chết.

Chỉ có những người giàu mới đủ tiền mua những cây gỗ quí to bằng cả mấy vòng ôm rồi thuê người đục đẽo chạm trổ thành hình những con thú lớn. Chỉ có những người giàu mới đủ tiền mua mấy con trâu ngả ra đãi cả làng ăn uống linh đình cả tháng trời…

Nhiều người dân không dám vào “Rừng Ma”

 Khám phá “Rừng Ma” u tối

Trung uý Phạm Xuân Hùng, Đội trưởng đội trinh sát Đồn biên phòng Đăk Long phăm phăm cắt rừng dẫn tôi tới “Khu rừng Ma”. Hùng mới ra trường, về đồn mới được mấy năm nên cũng giống tôi, tức là chỉ nghe nói về một khu rừng có những ngôi mộ treo của người Jẻ – Triêng thôi chứ chưa một lần nhìn thấy.

Trước khi đến “Rừng Ma”, tôi và Hùng đã khẩn khoản nhờ một người đàn ông Jẻ – Triêng dẫn đường, nhưng chỉ mới nghe nói đến hai tiếng “Rừng Ma” mặt mày người đàn ông đã tái dại. Ông lập bập nói không ra hơi: “Ôi… mình sợ lắm! Mình không dám vô đó đâu. Vô đó con ma nó bắt mình mất thôi…”.

Vậy là tôi và Hùng đành phải mò mẫm. Hùng dùng hết nghiệp vụ trinh sát ra cắt hướng và phán đoán. Còn tôi dùng hết ngũ quan để mò tìm. Khu rừng ẩm ướt âm u rờn rợn có một sức cuốn hút tôi kì lạ.

Sau nửa ngày cắt ngang cắt dọc khoảng rừng le rậm rạp, chúng tôi đã bước chân được vào “Khu rừng Ma”. Trong không gian u tối rợn lặng, những chiếc quan tài bị lá rừng phủ dày gợi lên một cảm giác rất ma mị liêu trai. Tim tôi đập thình thịch, mồ hôi chảy lạnh sống lưng. Nhưng tôi và Hùng vẫn đủ bình tĩnh để đếm được 11 chiếc quan tài treo, quá ít so với tưởng tượng.

Chúng tôi gặp rải rác những đồ tuỳ táng như ghè, xoong, dao, nỏ… đã bị đập vỡ, bẻ cong bên cạnh dấu tích những chiếc quan tài đã không còn hình thù. Theo lời ông A Nhôm thì từ khi bộ đội biên phòng cùng xã Đăk Long vận động, bà con không treo quan tài trên cây nữa. Những ngôi mộ treo cũ đã theo thời gian mà mục nát. Và vụ cháy rừng năm 2006 đã thiêu nốt nhưng chiếc quan tài gỗ…

Lội khắp “Khu rừng Ma” chúng tôi đã gặp những ngôi mộ mới với nấm đất vun cao, mái lợp tôn thấp thoáng dưới tán lá rừng. Phần lớn những ngôi mộ là chôn trực tiếp xuống đất như cách “địa táng” phổ biến của người Kinh. Một vài nhà khá giả thì xây mộ như một hầm ngầm bằng xi măng trong lòng đất rồi treo quan tài lửng lơ trong đó và đậy kín bằng nắp bê tông.

Thi thoảng chúng tôi bắt gặp những ngôi mộ đã xây sẵn, hầm bê tông vuông vức, mái lợp tôn rất đẹp. Như vậy là tục táng treo của người Jẻ – Triêng xét về mặt bản chất là vẫn tồn tại nhưng đang chuyển sang một hình thức khác. Vẫn biết là không thể nào khác được, nhưng khi đứng trong “Khu rừng Ma” kiểu mới, trong tôi dậy lên một niềm tiếc nuối thành thực.

ĐỖ TIẾN THỤY

Bình luận

Bạn có thể quan tâm