Những câu chuyện tâm linh kỳ bí xung quanh ngôi mộ cổ bị tàn phá tại Hưng Yên (Kỳ 6)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 8:00 14/07/2019 |

Suốt mấy trăm năm, người làng không có chút manh mối nào về vị tiền nhân nằm trong lăng mộ sừng sững ở cánh đồng. Chỉ đến khi mộ cổ bị quật lên thì dân làng mới tìm người để dịch tấm bia nhằm để hiểu rõ hơn về lịch sử lăng mộ cũng như công tích của vị đại quan táng tại thôn này. Những tiết lộ từ tấm bia đá rêu phong khiến bất cứ ai cũng phải giật mình.

Kỳ 6: Lạ lùng vị Tổng thái giám có tới 7 người con

la lung vi tong thai giam co toi 7 nguoi con
Tấm bia đá trong lăng mộ tiết lộ về thân phận của vị Tổng thái giám

Những người Tàu đi tìm kho báu ở khu lăng mộ cổ

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954), quân đội thực dân triển khai kế hoạch xây dựng xây bay dã chiến tại xã Trung Hưng (Yên Mỹ, Hưng Yên), cụ thể là ngay trên đất làng Thụy Trang. Chúng dự tính phá toàn bộ khu lăng mộ cổ ở phía cổng làng Thụy Trang để phục vụ cho sân bay. Tuy nhiên, mỗi khi máy móc chuẩn bị phá mộ thì máy đều không thể nổ được.

Cho là thần thánh hiển linh hay ma quỷ quấy nhiễu, những người lái máy là dân Việt đồng loạt nhảy khỏi cabin, không dám tiếp tục đào phá. Mấy tay sĩ quan phụ trách công tác xây dựng giận lắm, bắn súng chỉ thiên rầm rĩ, đốc thúc thợ và nhân công tiếp tục công việc. Cứ như thế, nhùng nhằng mấy tháng, việc san phá khu lăng mộ cổ vẫn không thực hiện được. Về sau, quân Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ, phải rút khỏi Việt Nam, dự án xây bay ở xã Trung Hưng cũng chấm dứt, chỉ còn lại câu chuyện truyền kỳ về sự linh thiêng của ngôi mộ cổ.

Dựa vào những gì phóng viên ghi nhận, có lẽ, trong thời gian rất dài, người dân Thụy Trang không có điều kiện để quan tâm đến nhân thân vị đại nhân nằm dưới ngôi mộ cổ, chỉ biết truyền tai nhau câu chuyện về “Quận chú”, “Quận cháu”. Chính vì thế, lăng mộ nằm giữa cánh đồng mới trở thành phế tích tàn tạ như hiện nay. (Ở đây, cũng không thể không đề cập đến sự tắc trách  của cơ quan quản lý, nghiên cứu văn hóa địa phương). Bên cạnh sự “lạnh nhạt” ấy, lại là sự quan tâm quá mức của một vài tên trộm mộ, đặc biệt là những vị khách không mời mà đến từ phương Bắc.

Theo người dân, xung quanh ngôi mộ cổ ở cổng làng Rồng còn rất nhiều những truyền thuyết hư thực khác nữa, đặc biệt là những câu chuyện về những người lạ từ phương Bắc tìm sang, mang theo bản đồ cổ, rồi giữa đêm thắp đèn đào bới trên những gò đống để tìm kho báu…

la lung vi tong thai giam co toi 7 nguoi con
Suốt mấy trăm năm, bia đá vẫn còn lưu lại về thân thế của ngài Tổng thái giám Nguyễn Đức Nhuận

Bà Trang, người dân làng Thụy Trang, nhớ lại: “Hồi trước giải phóng, có một nhóm 3 người Tàu tìm đến làng này, gồm một thầy bùa lớn tuổi, một nhà ngoại cảm và một thầy phong thủy. Cái ông thầy bùa nhiều tuổi thì ít nói lắm, cứ đi loanh quanh trong làng, ngoài vườn xem xét, ngắm nghía mọi thứ. Ông này còn gọi cả thần linh, thổ địa lên nói chuyện cứ như bạn bè. Nhà ngoại cảm thì cứ cầm đũa đi đo, còn anh thầy phong thủy thì thắp hương, gieo quẻ.

Xem xét xong, 3 người này khẳng định trong khu lăng mộ có kho báu rất lớn, có thể là một hòm vàng, hoặc tượng vàng, nặng hàng tạ. Họ định đào mộ để tìm hòm vàng, song dân làng phản đối kịch liệt nên họ đành bỏ đi. Sau này, không ít thầy phù thủy người Việt cũng tìm đến đây với ý đồ tìm vận may, nhưng đều bị dân làng phát hiện và xua đuổi. Chỉ có đám trộm mộ thỉnh thoảng nghe tin đồn lại mò đến, đào xới vào đêm khuya, song cũng bị dân phát hiện, đuổi đi”.

Hé lộ về thân thế vị đại quan bị quật mồ cuốc mả

Như đã nói ở trên, trong nhiều trăm năm, khu lăng mộ hoành tráng ở cánh đồng Đạo Khê cứ trơ trơ đứng cùng nắng mưa mà không được ai nghiên cứu, tìm hiểu. Chỉ đến khi một ngôi mộ cổ bị phá, thi hài của một vị đại quan bị kéo ra khỏi huyệt mộ hợp chất vốn dành cho bậc quyền quý, thì người làng Thụy Trang mới đôn đáo tìm người dịch bia đá để hiểu về vị phúc thần mà họ hằng kính ngưỡng.

Bia đá trong khu lăng mộ được chạm khắc tinh xảo, hoa văn thể hiện thân phận quý tộc của chủ nhân lăng mộ. Bia đá ghi rằng: “Tại triều đình, người làm quan có ba thứ bất hủ, một là công, một là đức, một là ngôn. Công và đức đều đã có, vậy thì chủ trương vô ngôn làm sao được? Từ xưa, bia thường ghi lại sự tích làm gương cho đời sau, hoặc phân tích mà rút ra ý nghĩa, hoặc gộp lại mà bàn rộng ra cho sáng rõ thêm. Từ đó, các thế hệ con cháu mới thấy được sự nghiệp lớn lao của tổ tiên mà cố gắng phấn đấu, đó chính là việc của nghìn năm mà thấy trong một ngày vậy.

Vương phủ tiền thị Hữu Trung Cung, Phó thù hiệu, thị hậu, Cự uy đội, Phó tri thị nội thư, Tả hộ phiên, Thị cận thị nội giám, tư lễ giám, tổng thái giám, chuẩn nghĩa hầu, gia tặng chuẩn quận công Nguyễn quý công, tự Đức Nhuận, tên hiệu là Tính Thoan (tức Xuyền), sinh vào giờ Tý, ngày 5 tháng 4 năm Nhâm Tý (Lê Gia Tông, niên hiệu Dương Đức năm thứ nhất, chúa Trịnh Tạc, dương lịch 1672), mất vào giờ Dậu, ngày 9 tháng 10 năm Đinh Mùi (Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái thứ 7, chúa Trịnh Cương, dương lịch 1727), hưởng thọ 55 tuổi, mộ táng tại cánh đồng Bãi Quân, tọa Nhâm, hướng Ngọ.

Tổ tiên của ngài xây nền tạo phúc từ nhiều đời trước, luôn lấy điều nhân làm gốc, lai lịch không thể kể hết được. Ngài vốn là người huyện Đường Hào, họ Dương, sau đổi thành họ Nguyễn, nguyên quán ở xã Trung Đạo, sau chuyển nhà đến thôn Châu Xá, xã Đạo Khê. Họ Dương là một họ lớn trong vùng, vốn dòng danh gia thế phiệt, các bậc tiên hiền đã dày công xây nên quả phúc.

Ông nội ngài là Dương quý công, tên tự Phúc Mãn, bà nội Nguyễn Thị, tên hiệu Từ Thịnh. Phụ thân ngài là Dương quý công, tự Phúc Hải, sớm được triều đình ban tặng hàm Quang hiệu điện thiếu khanh, Nho trung từ, sau gia tặng An Dương xứ hữu tham nghị, là người mẫn đạt, tính ôn hòa, tuy sinh ra trong gia đình giàu sang, nhưng vẫn giữ nếp sống thanh bạch, cần kiệm truyền lại cho con cháu.

Thân mẫu ngày được tập ấm phong chức Thận nhân, họ Nguyễn,  hiệu Diệu Bích, là người đoan trang, trinh tĩnh , tuy là con nhà khuê các mà vẫn không quên giúp đỡ những kẻ mồ côi, nêu tấm gương sáng cho mọi người. Đó là đức tính quý vốn do trời sinh mà có vậy.

la lung vi tong thai giam co toi 7 nguoi con
Từ các trang phục và cách an táng, người dân suy đoán rằng vị nằm trong ngôi mộ cổ ở làng Rồng hẳn là quý tộc thời xưa (ảnh minh họa)

…Chức Tổng thái giám thuộc hàng đại thần, lại lập được nhiều công nên được triều đình ban thưởng ruộng ở vùng Bạch Châu đều thuộc hạng thượng đẳng. Các hạt này đã lập bia ghi rõ sự việc. Ngoài ra, ngài còn phụng chỉ tổ chức khai thác vàng sa khoáng rồi luyện thành vàng tinh chất cho triều đình. Sinh ra một đời người, chức vị và tài lộc đều đầy đủ. Ô hô! Thịnh thay. Công đức ấy ngài không hưởng riêng mà ban cho dân các hạt, trước hết thuộc quê nội là Thụy Trang, rồi đến bên ngoại như thôn Châu Xá.

Năm Đinh Mùi, tháng 10, ngài vĩnh biệt cõi trần quy tiên, vin vảy rồng mà về trời, tuy nhàn du tiên cảnh nhưng vẫn còn lưu lại từ cục, hồng ân với cố hương. Sau khi khứ thể, ngài được triều đình truy tặng Đặc tiền phụ quốc thượng tướng quân, Thị nội giám, Tư lễ giám, Tổng thái giám, chuẩn Quận công, tặng tên thụy Minh Đức, tổ chức tang lễ theo nghi thức triều đình vô cùng long trọng. Lúc ngài còn sống, được vinh danh hiển đạt.

Sau khi chết, được ban thụy hiệu trung thần mà lại đắc hiếu, công ấy, đức ấy, xưa nay không mấy ai sánh kịp. Nhớ vong linh ngài, nghĩ rằng, dưới suối vàng trở lại với các con cháu rất khó, cho dù trước khi nhắm mắt ngài vẫn còn những điều vương vấn về các con mình. Ngài sinh hạ 7 người con, 5 trai là Nguyễn Văn Cơ, Nguyễn Đức Viêm, Nguyễn Văn Thể, Nguyễn Văn Sí, Nguyễn Văn Trung, và hai người con gái là Nguyễn Thị Ngọc, Nguyễn Thị Loan.

Cuộc đời làm quan của ngài để lại tiếng thơm khắp nơi, đến tận vùng Tiêu An, giống như chuyện vườn lê, cho dù còn khiếm khuyết cũng đã từng làm nên sự nghiệp ở nơi đế thành của một vị tướng quân vậy…”.

Nhà nghiên cứu tâm linh Bùi Quốc Hùng cho biết: “Theo hồ sơ nghiên cứu của tôi và tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, thì vùng Đạo Khê này có truyền thuyết kể về Lăng mộ hai chú cháu nhà ông Quận cùng được táng tại cánh đồng Bãi Quân. Mặt khác, khi khảo sát văn bia , chúng tôi đã biết rằng ngài Tổng thái giám Nguyễn Đức Nhuận có cha mang họ Dương cũng giữ chức vụ khá cao trong phủ Chúa Trịnh.

Theo tài liệu chúng tôi có thì ngài Tổng thái giám  Nguyễn Đức Nhuận  có tới 7 người con: năm trai và hai gái, có tên tuổi hẳn hoi. Như vậy ngài làm chức Tổng Thái giám sau khi đã có gia đình con cái đàng hoàng”. Đây là hiện tượng khá lạ lùng trong lịch sử, dẫn đến không ít chuyện tranh cãi quyết liệt giữa các dòng họ (chúng tôi sẽ có điều kiện đề cập trong những số báo tới). 

Kỳ 7: Cái chết bí ẩn của người tham gia đào mộ cổ

Hoài Sơn

Tags:

Bình luận

Bạn có thể quan tâm