fbpx

Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 5)

Đăng lúc: 5:04 30/05/2019 -

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sở dĩ có được danh tiếng và tài tiên tri như thần không ai sánh kịp là bởi bên cạnh tài năng thiên phú “bất khả tư nghì”, ngay từ thời niên thiếu, ông đã được nuôi dưỡng bởi hai người thầy lớn trong đời. Đó là người mẹ Nhữ Thị Thục và Bảng nhãn Lương Đắc Bằng

Kỳ 5: Ngôi mộ trời cho họ Trịnh

Tượng Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ông không đợi được, bà cũng… không đợi được

Bà Nhữ Thị Thục là con gái của quan thượng thư Nhữ Văn Lan. Là người tinh thông khoa chiêm tinh và dịch lý, bà đã tự tay lập lá số tử vi cho mình và biết mình sẽ sinh quý tử. Muốn vậy, bà cần phải kết duyên với người có cung mệnh tương ứng song đợi chờ mãi, đến ngưỡng cửa tuổi 30 mà vẫn chưa tìm được ai. Cuối cùng, bà phát hiện ra ở chốn quê thôn dã có ông đồ nho nghèo Nguyễn Văn Định có thể giúp bà sinh ra một nhân tài nên bà quyết định tự tìm đến.

Tương truyền, trong đêm hợp hôn, trăng sáng như gương, bà ra ngoài vườn bẻ một cành trúc cắm giữa sân rồi dặn chồng: khi nào ánh trăng chiếu xuống cành trúc mà không còn thấy bóng dưới gốc nữa mới được vào phòng hoa chúc. Nhưng ông Văn Định sốt ruột, không đợi được. Khi cành trúc vẫn còn soi rõ bóng dưới sân, ông đã vội vào ăn nằm với bà. Bà trách chồng nôn nóng như thế chỉ sinh được người con đỗ Trạng chứ không thể tạo nên nghiệp đế.

Đúng như lời tiên đoán của bà, người con bà sinh ra là Nguyễn Bỉnh Khiêm, sau này đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc, làm quan đến Thượng thư Bộ Lại, Thái phó, là thầy dạy học của thái tử Mạc Phúc Hải, được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công, nên người đời thường gọi là Trạng Trình và những tiên tri của ông được tập hợp với tựa “Trình Quốc công sấm ký”.


Về người thầy thứ hai của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Ông vốn là một vị quan lớn thanh liêm, chính trực. Vì chán triều chính thối nát nên từ quan rời kinh đô Thăng Long về quê nhà Thanh Hóa mở trường dạy học, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã theo thầy về xứ Thanh. Thầy Lương Đắc Bằng nắm giữ bộ “Thái ất thần kinh” và đã truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm yếu chỉ của bộ sách đó, cùng những ứng dụng trong lĩnh vực chiêm tinh, tiên đoán liên quan đến khoa địa lý và phong thủy.

Sau này, khi biết trước sự nhiễu nhương của thời cuộc bên ngoài và đầu mối suy sụp trong nội tình nhà Mạc, Trạng Trình đã dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng hành nhưng vua Mạc không chấp thuận, ông treo mũ từ quan về quê, dựng am Bạch Vân bên bờ sông Tuyết Hàn.

Chính tại đây, về sau, các vua Mạc, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn đều lần lượt phái sứ giả đến yết kiến để xin cố vấn về các giải pháp trước mắt, hoặc tiên tri chỉ dẫn về những điều hệ trọng liên quan đến sự sống còn của họ trong tương lai, trong đó có Trịnh Kiểm.

Trịnh Kiểm


Trịnh Kiểm là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh sau khi Nguyễn Kim mất. Ông tiếp tục sự nghiệp phù Lê diệt Mạc và sau này, những hậu duệ của ông đã hoàn thành sự nghiệp trung hưng Nhà Lê, khôi phục Đông Kinh, mở ra thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh.

Tuy được coi là vị chúa đầu tiên của hơn 200 năm cơ nghiệp dòng họ Trịnh nhưng đương thời khi cầm quyền, ông không xưng là chúa mà được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam – Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (18 tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

Tượng thờ Trịnh Kiểm

Theo “Đại Việt Lê triều đế vương Trung Hưng công nghiệp thực lục”, tổ tiên của Trịnh Kiểm là Trịnh Liễu: “Nhà nghèo, ham học, tích đức, làm việc nghĩa. Họ hàng khen hiếu, làng xóm khen đễ. Sau rời đến làng Biện Thượng (nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng), làm điều thiện không mỏi, nhân hậu có thừa”. Trịnh Liễu lấy vợ họ Hoàng ở làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, Thanh Hóa (nay là xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Gia tư Trịnh Liễu nghèo đói, làm ruộng và bán nước chè kiếm sống nhưng rất ham đọc sách. Ngày nọ, Trịnh Liễu đi cày gặp được một ông già khuyên đem táng mộ cha mẹ vào nơi mà ông sẽ chỉ cho. Trịnh Liễu theo lời, đem hài cốt cha mẹ táng theo hướng đất mà ông già lập. Sau đó, Trịnh Liễu đi thi đỗ tam trường (tương đương tú tài). Con trai Trịnh Liễu là Trịnh Lan cũng lấy vợ họ Hoàng, người xã Biện Thượng.

Con thứ của Trịnh Lan là Trịnh Lâu cũng lấy vợ họ Hoàng là bà Hoàng Thị Dốc ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định (nay là xã Yên Bái, huyện Yên Định, Thanh Hóa). Bà Hoàng Thị Dốc chính là người sinh hạ Trịnh Kiểm.

Trịnh Kiểm là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh


Trịnh Kiểm sinh ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức ngày 14 tháng 9 niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 (1503) dưới triều vua Hiến Tông Duệ hoàng đế Nhà Hậu Lê. Lên sáu tuổi thì cha mất. Từ đó gia cảnh sa sút, bị người ta khinh. Trịnh Kiểm bèn bỏ Biện Thượng về lại quê cũ là Sóc Sơn, sinh sống bằng nghề chăn trâu thuê trong núi Lệ Sơn. Khi đi chăn thường cùng lũ trẻ mục đồng lấy trâu, bò giả làm voi, ngựa, bẻ bông lau làm cờ, tập trận mạc, có khí khái như Đinh Tiên Hoàng khi xưa. Đến năm 17 tuổi, Trịnh Kiểm hùng dũng hơn người, trí lực khác thường.


Lúc bấy giờ, trong khoảng niên hiệu Thống Nguyên, vào năm Đinh Hợi, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi vua Lê. Bề tôi nhà Lê là Nguyễn Kim ở huyện Tống Sơn, trang Gia Miêu Ngoại (Hà Trung hiện nay) ngầm rút về Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ để đánh Mạc. Tướng quân Nhà Mạc là Ninh Bang hầu quán xã Biện Thượng, tiến phát quân về đóng ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc ngày nay).

Mẹ Trịnh Kiểm đã đem Trịnh Kiểm đến xin Ninh Bang hầu cho con làm gia thần. Biết Trịnh Kiểm là một tay kỵ mã tài giỏi nên tướng nhà Mạc Ninh Bang hầu mừng vui thu nhận, giao cho Trịnh Kiểm chăm sóc huấn luyện đàn ngựa chiến hay nhất của mình ở sách Thọ Liêu.


Được ít lâu, có người khuyên Trịnh Kiểm không nên cộng tác với tướng nhà Mạc nữa, vì nhà Mạc phi nghĩa (Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê năm 1527) mà hãy tìm đến Nguyễn Kim (là tướng của nhà Lê) để cùng chống Mạc. Trịnh Kiểm nghe theo, nửa đêm bỏ Ninh Bang hầu trốn đi, mang theo con ngựa chiến đầu đàn.

Ông chạy sang Mường Sùng Cổ Lũng, Bá Thước, bấy giờ là nước Ai Lao. Ông đi theo anh họ là Trịnh Quang, lúc đó đã theo Nguyễn Kim rồi đón mẹ sang ở. Ninh Bang hầu biết tin Trịnh Kiểm ăn cắp ngựa của mình, bỏ đi nhiều ngày không về nên rất tức giận, bèn sai quân lính, dân các xã Sóc Sơn, Biện Thượng lùng bắt mẹ con Trịnh Kiểm.

Khu di tích Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Xã trưởng Biện Thượng tìm thấy mẹ con Trịnh Kiểm đang nấp sau nhà nhưng không những không bắt mà còn ra hiệu bằng cách ném đất và nháy mắt cho Trịnh Kiểm chui qua mấy tầng rào chạy trốn đến nhà người tên Nữu ở Yên Định. Người này đã bới đống thóc trong bồ lớn, cho Trịnh Kiểm chui vào đó rồi lấp lúa lại. Ninh Bang hầu không tìm thấy tung tích của Trịnh Kiểm nên tức tối bắt mẹ ông, nhốt vào một cái lồng tre, lấy đá lớn cột lại, thả xuống vực nước sâu.

Khi chiếc lồng chìm xuống đáy thì kỳ lạ thay, đêm ấy nước sông như sôi lên, sấm chớp cùng mưa nguồn cuồn cuộn đổ về. Nước chảy mạnh như muốn xô trôi cả hai bờ sông. Sáng ra, mưa tạnh, người quanh vùng hết sức kinh ngạc khi thấy nơi vực xoáy nhấn chìm mẹ Trịnh Kiểm chiều hôm trước, bỗng nổi lên một gò đất mới sạch sẽ, trông như một ngôi mộ trời cho đang ôm chôn thi hài của bà mẹ Trịnh.

Tin đồn lan nhanh. Một vài thầy địa lý đã tìm đến tận nơi xem xét địa thế của gò đất rồi đoán định rằng, con cháu họ Trịnh từ đây sẽ bắt đầu phát đạt lớn. Cũng từ đó truyền đi câu tiên tri: “Phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ, tộ truyền bát đại, tiêu tường khởi họa”. Nghĩa là, con cháu họ Trịnh tuy không phải là “đế”, cũng không phải là “bá” (phi đế phi bá) nhưng quyền thế sẽ rất lớn có thể làm nghiêng cả thiên hạ (quyền khuynh thiên hạ) và sẽ truyền đến đời thứ 8 (bát đại) thì cạn phước và họa sẽ từ trong nhà khởi ra.

Long mạch và lời nói của Trạng Trình

Sau này, một số thầy địa lý cũng cho rằng, gò đất nơi chôn vùi mẹ Trịnh Kiểm không tách rời với dòng lưu chuyển của thủy (nước). Mà thủy, như cụ Tả Ao đã chỉ rõ: “Nước phân chữ bát phân minh/ Hai bên chảy thuận, loan hình tống long/ Cửa trời trên đã mở thông/ Thượng phần là đấy chính long thực vào”.

Tạm hiểu là, khi nước chảy từ Tổ sơn phân ra “chữ bát” thì nguồn nước đó đang trổ cửa cho long mạch chạy tới trước. Hễ long mạch chạy tới chỗ nào, nước sẽ theo đến chỗ ấy, khi gần khi xa, khi chia nhánh này, nhánh nọ, nhưng cuối cùng cũng đến chỗ nước tụ, tức là chỗ kết huyệt tốt (nước tống giao, hạ hợp).

Cũng có những thế nước chảy không tốt, bất lợi, như chỗ nước gầm réo kêu thương (thủy khấp khốc) là nơi có huyệt xấu. Chỗ nào có Đào hoa thủy là sẽ có người đa tình, đa dâm. Chỗ nào nước chảy tràn lan như rèm cuốn (nội đường chi thủy, quyển liêm) là tiền tài sẽ tiêu tán. Chỗ nào nước chảy xuyên qua thành xoay quanh cuộc đất (thủy phản lộ, xuyên thành) là trước sau sẽ bị hại.

Chỗ nào nước chảy cắt chân núi (thủy tà sơn túc) sẽ dẫn đến hao của, hại người… Suy ra, chỗ gò đất ôm thi hài của mẹ Trịnh Kiểm nổi lên đột ngột giữa vực kia không nằm trong các thế nước chảy bất lợi nêu trên. Mà trái lại, như các thầy địa lý nói, nó báo trước sự hưng thịnh của tương lai Trịnh Kiểm, bắt đầu từ việc Trịnh Kiểm chạy đến thôn Cổ Lũng sau ngày mẹ chết thảm, để vào giúp việc dưới trướng Nguyễn Kim (ông tổ khai nghiệp các đời chúa Nguyễn).


Nguyễn Kim vốn là Điện tiền tướng quân của nhà Lê đã thâu nạp, trọng dụng Trịnh Kiểm và đem con gái của mình là Nguyễn Thị Ngọc Bảo gả cho. Cuộc hôn nhân này là bệ phóng đưa Trịnh Kiểm lên đỉnh cao quyền lực. Vì khi Nguyễn Kim mất (bị hàng tướng nhà Mạc đầu độc) toàn bộ binh quyền chuyển qua tay Trịnh Kiểm.

Trịnh Kiểm năm ấy 42 tuổi, quyền uy rất lớn, lập hành điện ở Thanh Hóa cho vua Lê ở, chiêu tập hào kiệt làm chủ giang sơn phía Nam từ Thanh Hóa trở vào (gọi Nam triều) để chống lại nhà Mạc bấy giờ vốn đang làm chủ vùng đất từ Sơn Nam trở ra (gọi Bắc triều). Khi cuộc chiến Nam – Bắc triều còn đang tiếp diễn thì vua Lê Trang Tông mất, vua Trung Tông lên thay được 8 năm cũng mất, chưa có ai kế vị.

Trong tình cảnh ấy, Trịnh Kiểm có ý muốn xưng làm vua nhưng còn lưỡng lự, chưa dám, mới sai sứ giả bí mật ra Hải Dương xin ý kiến cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình lặng im một lúc không nói gì, rồi đột nhiên gọi người giúp việc trong nhà ra lớn tiếng bảo: “Năm nay mất mùa, thóc giống không được tốt, nên tìm giống cũ mà gieo”.

Xong lại sang bên chùa bảo mấy chú tiểu: “Hãy giữ chùa thờ Phật thì sẽ được ăn oản”. Hai câu nói ấy hàm ý rằng: hãy tìm con cháu vua Lê (tìm giống cũ) và hãy giữ ngôi nhà Lê (giữ chùa thờ Phật) sẽ được mưa móc, ngọt ngào (ăn oản). Trịnh Kiểm hiểu ý Trạng Trình, mới đi tìm cháu ruột của Lê Lợi là Lê Duy Bang đưa lên ngôi, còn mình vẫn giữ vị trí làm chúa, song thực quyền vẫn nằm hết trong tay như “nước chảy vào chỗ trũng”.

Quả là sau này Trịnh Kiểm nắm hết quyền dưới thời Lê trung hưng và truyền được 8 đời. Nhà sử học Trần Trọng Kim đã tổng luận: “Họ Trịnh giúp nhà Lê trung hưng lên, rồi giữ lấy quyền chính, lập ra nghiệp chúa, lưu truyền từ Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) đến Trịnh Khải được 216 năm (1570 – 1786) là hết”. Mầm mống suy tàn bắt nguồn từ đời thứ 8 là Trịnh Sâm với hai sai lầm lớn. Một là đối với nhà Lê, ông đã phế hoàng tử Lê Duy Vĩ rồi sai giết đi.

Hai là đối với nội tình phủ chúa, ông đã truất con lớn (là Trịnh Khải) để lập đứa con nhỏ do ái phi của ông là Đặng Thị Huệ sinh ra (Trịnh Cán) làm thế tử, gây bất bình, khiến kiêu binh nổi dậy, phế bỏ Trịnh Cán, đưa Trịnh Khải lên. Nhưng Trịnh Khải lên chưa bao lâu lại bị quân Tây Sơn từ phía Nam tấn công ra Thăng Long. Mặc dầu Trịnh Khải rất dũng cảm, lên voi chiến xông trận, nhưng thất thế phải chạy lánh lên Sơn Tây rồi bị bắt, đã dùng gươm tự sát.

Hay tin đó Nguyễn Huệ lệnh quân Tây Sơn tống táng Trịnh Khải đúng theo vương lễ. Trịnh Khải mất, Trịnh Bồng kế nghiệp chúa nhưng đã bỏ đi tu trong những ngôi chùa hẻo lánh trên vùng núi phía Bắc. Nhiều người cho rằng Hải Đạt thiền sư chính là Trịnh Bồng. Tương truyền, Trịnh Bồng đã để lại mấy câu: “Hai trăm năm đó đủ điều/ Cơ đồ tựa tiếng chuông chiều vừa tan”

(Còn nữa)

Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 4)

Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, chưa có ai sánh được danh tiếng về tài tiên tri và những sấm ký lưu truyền theo dòng lịch sử như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông giúp đỡ không chỉ riêng chúa Nguyễn dựng nghiệp lớn với 9 đời chúa, 13 đời vua mà còn vạch đường cho chúa Trịnh biết cách “thờ Phật ăn oản”, cho nhà Mạc chạy về “ẩn tại Cao Bằng”. Những tiên đoán chính xác về thế sự, về các vùng đất “ẩn long” hay “vạn đại dung thân” của ông đến tận bây giờ vẫn được người đời nhắc đến với lòng ngưỡng mộ đặc biệt.

Hoàng Anh Sướng

Bình luận