fbpx

Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 1)

Đăng lúc: 11:02 09/05/2019 -

Nói đến sự hình thành và phát triển vương triều nhà Lý, chúng ta không thể không nhắc đến hai nhà phong thủy lẫy lừng là Cao Biền và thiền sư La Quý.

Kỳ 1: Hai nhà phong thủy nổi danh Cao Biền, La Quý và sự hình thành của vương triều nhà Lý

Cao Biền

LTS: Thời gian vừa qua, quý bạn đọc đã cùng tôi “Khám phá thế giới của những ngôi mộ” với những câu chuyện kỳ bí về thần giữ của, về những ngôi mộ kết, về sự tương tác giữa người sống và người chết, trong đó, có một vấn đề mà rất nhiều bạn đọc quan tâm, đó là âm trạch, chọn nơi chôn cất theo phong thủy, có liên quan trực tiếp đến phúc, họa, hung, cát của các thế hệ con cháu tương lai. Không phải ngẫu nhiên, nhiều danh nhân trong lịch sử đều rất coi trọng phong thủy của các ngôi mộ. Có thể họ đã được hưởng rất nhiều danh lợi từ những ngôi mộ của tổ tiên và sự nổi tiếng của họ là minh chứng điều này.

Song trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về sự hưng thịnh, suy vong của các vương triều, các dòng tộc nổi tiếng, chúng tôi phát hiện ra rằng: Dẫu cái tốt, xấu của phong thủy huyệt mộ ảnh hưởng đến cát, hung nhưng âm đức của con người có thể cải biến được vận mạng. Đến như các bậc phong thủy nổi danh lẫy lừng trong lịch sử như Cao Biền, Quách Phác, Tả Ao… tài giỏi kinh thiên động địa nhưng khi gặp huyệt đế vương cũng không dám dành cho mình. Bởi hơn ai hết, họ hiểu dẫu biết đạt địa lợi nhưng thiên thời và nhân hội còn khuyết thì không thể nghĩ bàn. Bởi vậy, sách cổ có câu: “Tiên tu nhân lập âm chất, nhi hậu tầm long”.

Sách “Thôi quan thiên” viết: “Trong nhà có người đức hạnh cao thượng thì đất đá trên núi gần đó nhất định có linh khí”. Điều đó có nghĩa là: con người làm chủ linh khí vạn vật do phần tâm khí của chính mình. Các phong thủy sư nếu không hiểu điều này thì dù có trích huyệt tầm long được bảo địa cũng chẳng linh nghiệm. Vì việc tầm long địa huyệt còn phải hội thêm phần cảm ứng, tức là Thiên Đạo (Đạo Trời ), sự ứng nghiệm của việc hành thiện lập âm chất, tạo nhân quả tốt. Tục ngữ có câu: “Âm địa tốt không bằng tâm địa tốt”.

Do vậy, bên cạnh việc tìm kiếm chọn lọc được địa mạch huyệt vị, phong thủy sư còn phải tích đức hành thiện làm căn bản. Nếu kẻ nào có phẩm chất cao thượng thì ắt thiên cơ sẽ ứng, địa cơ theo đó mà tăng thêm sự tốt lành cho con cháu đời sau hưởng phúc. Bởi tâm địa thiện lương thì tương ứng với địa mạch cát lợi, vận trời ứng cho. Nếu như các thầy phong thủy họ tài giỏi như thế thì ắt họ phải giành những huyệt đế vương, công hầu, khanh tướng cho con cháu họ chứ dại gì mà họ chỉ cho ai?  Quách Phác nói: “Cát hung cùng cảm ứng lẫn nhau, họa phúc cũng tự nhiên theo tâm khí chiêu cảm mà đến”. Khi táng di hài tổ tiên chắc người ta phải chọn địa huyệt thật tốt mà an táng. Song song với việc trên, người tại tiền phải nỗ lực tu dưỡng thân, tâm cầu lấy gốc rễ của Đạo.

Nếu chỉ chú trọng quan sát hình thể địa huyệt sẽ cho kết quả trái ngược, làm tổn hại đến con cháu đời sau. Nếu như có Nhân, tất phải có Quả nhưng Nhân – Quả thiện ác tùy vào tâm khi chiêu lấy họa phúc. Cũng như ngày xưa có người chết được thiên táng hay địa táng một cách ngẫu nhiên, con cháu sau này phát đế vương, công hầu. Triệu Quang viết cuốn “Phong thủy tuyển trạch tự” có câu: “Vô phước cho ai không có nhân duyên mà được huyệt tốt”. Ngẫm thế, mới thấy câu “Tiên tích đức, nhi hậu tầm long” của người xưa dạy quả không sai. Hiểu thế, mới thấy quy luật Nhân Quả chi phối vạn sự, vạn vật trong vũ trụ.  

Cao Biền và linh khí nước Nam

Nói đến sự hình thành và phát triển vương triều nhà Lý, chúng ta không thể không nhắc đến hai nhà phong thủy lẫy lừng là Cao Biền và thiền sư La Quý. Theo sách “Thiền Uyển tập anh” ghi chép thì vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, vua Đường Ý Tông muốn xâm chiếm nước Nam. Song vì nhận thấy vùng đất này thời kỳ nào cũng có những nhân tài nổi lên nên vua Đường bèn tìm cách trấn yểm linh khí.

Năm Giáp Thân (864), vua Đường cho Cao Biền là một nhà phong thủy đại tài của Trung Quốc thời đó đến Giao Châu làm Tiết Độ Sứ. Khi đi, vua Đường dặn dò Cao Biền rằng: “Trưng Thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cả cơ nghiệp nhà Đông Hán; rồi lại Triệu Ẩu, Lý Bôn… làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau có biến.

Khanh đến đó trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An Nam, đi và vẽ bản đồ về cho trẫm”. Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta. Ông bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh thì đều trấn yểm.

Phép phong thủy phân biệt hình thế của đất làm năm loại: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tùy theo thế đất và hình dáng của cuộc đất (giống con vật gì) để theo đó đặt tên, tiên đoán lành dữ cho những ai sử dụng cuộc đất ấy như: lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thủy, hổ trục quần dương, hoặc quần tiên hội ẩm (được xem là những cuộc đất quý).

Hoàng thành Thăng Long

Là người giỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cát hung nên Cao Biền đã dò xét rất kỹ vị trí để xây thành Đại La (sau này vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long đã cho xây mới lại) và dò tìm đầu mối long mạch nước ta. Theo tư liệu lịch sử, Cao Biền đã tiến hành đắp lớn thành này cao đến 2 trượng 6 thước, chu vi hơn 1982 trượng, trên thành xây 55 vọng gác với nhiều điểm phòng vệ quân sự. Để làm rào chắn cho thành Đại La, Cao Biền đã tập trung các hộ ở vây quanh với bốn vạn căn nhà. Riêng núi Tản Viên, Cao Biền không dám đụng tới vì nhận thấy đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.

Khi cho xây thành Đại La bên sông Tô Lịch, biết đất ở làng Cổ Pháp có khí tượng Đế vương, Cao Biền đã cắt đứt long mạch nơi đây bằng cách đào đứt con sông Điềm (các nghiên cứu cho rằng có thể là sống Đuống ngày nay) và 19 điểm ở ao Phù Chẩn (thuộc làng Phù Chẩn, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh). Tuy nhiên, việc Cao Biền phá hoại phong thủy đã bị thiền sư nước Nam tiên đoán từ trước.

Câu chuyện bắt đầu từ thiền sư Định Không thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi (diệt hỷ) ở chùa Thiện Chúng thuộc địa phận hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805), sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng đào được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư Định Không sai người đem ra sông rửa sạch, vô tình đánh rơi một chiếc. Nó rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im.

Sư Định Không bèn giải thích rằng: Thập khẩu là chữ cổ, Thủy khứ là chữ Pháp còn thổ là chỉ vào hương ta. Nhân đó ông đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Và có đọc hai câu thơ rằng: “Pháp khí xuất hiện thập khẩu đồng chung/ Lý hưng vương tam phẩm thành công”. Dịch là: “Pháp khí hiện ra mười cái chung đồng/ Họ Lý làm vua ba phẩm thành công..

Nhân tài nối lại long mạch

Ngay từ trước khi Cao Biền nhận lệnh trấn yểm nước Nam thì năm 808, thiền sư Định Không trước khi viên tịch đã cho gọi người kế tục mình là Thông Thiện đến dặn dò rằng: “Ta muốn mở rộng làng xóm nhưng e nửa chừng gặp tai họa. Chắc có kẻ lạ đến phá hoại đất nước ta. Sau khi ta mất, con khéo giữ pháp này, gặp người họ Đinh thì truyền, nguyện ta đã mãn”.

Điều đó chứng tỏ rằng thiền sư đã tiên đoán được việc Cao Biền sẽ phá phong thủy và việc người kế tục đệ tử của ông sẽ mang họ Đinh. Quả đúng như thế. Sau này, sư Thông Thiện gặp một đệ tử rất thông minh là Đinh La Quý. Đoán biết đây là người kế tục mình nên ông đã truyền thụ hết các sở học cho đệ tử.

La Quý là người rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai. Ngài tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Chính La Quý là người đã nối lại long mạch cho làng Cổ Pháp. Năm 936 (thời Dương Đình Nghệ), khi tròn 85 tuổi, biết mình sắp mất, ngài La Quý đã gọi đệ tử chân truyền của mình là Thiền Ông đến nói: “Ngày trước, Cao Biền đã xây thành bên sông Tô Lịch. Dùng phép phong thủy, biết vùng đất Cổ Pháp của ta có khí tượng Đế vương nên đã nhẫn tâm đào đứt sông Điềm và khuấy động 19 chỗ trấn yểm ở Phù Chẩn. Nay ta đã chủ trì nối lại những chỗ bị đào đứt được lành lặn như xưa.

Tượng vua Lý Công Uẩn

Trước khi ta mất, ta có trồng tại chùa Châu Minh một cây bông gạo. Cây bông gạo này không phải là cây bông gạo bình thường mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đứt trong long mạch, mục đích để đời sau sẽ có một vị hoàng đế ra đời và vị này sẽ phò dựng chính pháp của chư Phật”. Thiền sư La Quý còn cẩn thận dặn dò Thiền Ông rằng: “Sau khi ta tịch, con khéo đắp một ngọn tháp bằng đất, dùng phép yểm dấu trong đó, chớ cho người thấy”.

Trong sách “Thiền Uyển tập anh” có ghi chép rằng, trước khi mất ngài La Quý có làm một bài thơ tiên đoán như sau: “Đại sơn long đầu khỉ/ Cù vĩ ẩn Châu minh/ Thập bát tử định thiền/ Miên thọ hiện long hình/ Thổ kê thử nguyệt nội/ Định kiên nhật xuất thanh”. Dịch là: “Đại sơn đầu rồng ngửng/ Đuôi cù ẩn Châu minh/ Thập bát tử định thành/ Bông gạo hiện long hình/ Thỏ gà trong tháng chuột/ Nhất định thấy trời lên”.

Ở câu thứ 3 “thập bát tử” tức chữ thập, chữ bát, chữ tử tạo thành chữ Lý, ý chỉ vị vua sau này mang họ Lý. Hai câu sau nói ra vị vua này lên ngôi vào tháng chuột (tháng 11) năm gà (tức năm Dậu 1009). Quả đúng như lời tiên đoán của La Quý, vị vua mang họ Lý lên ngôi vua vào tháng 11 năm 1009 chính là vua Lý Công Uẩn.

Năm 1009, trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi, một tia sét lớn đánh vào cây bông gạo khiến một cành to bị gãy nhưng cây không chết. Chính vì thế mà làng Diên Uẩn, Cổ Pháp còn gọi là làng Dương Lôi hay Đình Sấm. Có giả thiết cho rằng sự việc này cũng là do thầy phong thủy Trung Quốc làm.

Đúng như lời đoán trước khi mất của thiền sư La Quý, vua Lý Công Uẩn là người làng Cổ Pháp. Lý Công Uẩn mồ côi từ nhỏ, được sư Khánh Vân đem về chùa nuôi, lớn lên Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy và sau này lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ, mở ra thời đại hộ pháp hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam. Khi ông lên ngôi đã duy hộ Phật pháp, dùng Phật pháp để giáo hóa muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định. Kể từ đó, Đại Việt hùng mạnh, mở ra thời kỳ thịnh trị.

Danh nhân Tả Ao

Vào thời nhà Lý, Đại Việt bị kẹp giữa gọng kìm bởi liên minh Tống – Chiêm thế nhưng nhà Lý không chỉ giữ vững giang sơn mà còn có những cuộc Nam – Bắc tiến, phá tan gọng kìm liên minh Tống – Chiêm. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng danh tướng Lý Thường Kiệt dẫn quân Nam tiến đánh Chiêm Thành, chiếm thành và bắt sống vua Chiêm. Lấy tấn công để phòng thủ, năm 1075, Lý Thường Kiệt đưa quân Bắc tiến, đánh sang đất Tống. Quân Đại Việt chiếm nhiều Châu trại trên đất Tống như Khâm Châu, Liêm Châu, Lộc Châu, Bạch Châu, Ung Châu. Quân Tống đại bại, hàng chục tướng nhà Tống bị tử trận.

Sự lên ngôi của vua Lý Công Uẩn đã mở ra thời kỳ cường thịnh của Đại Việt, cũng cho thấy sự tài ba của các thiền sư Việt khi phá giải thuật phong thủy của Cao Biền.

Cho đến đời Lê, có ngài Nguyễn Đức Huyên sinh tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là người lặn lội học khoa địa lý phong thủy tận nơi khai sáng của khoa này trên đất Trung Hoa và cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách địa lý lưu truyền đến nay. Ngài là danh nhân có tên gọi quen thuộc không những trong dân gian mà cả giới nghiên cứu nữa: Tả Ao.

Bản đồ thành Đại La

Tả Ao đã phân tích, nêu rõ hình các cuộc đất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng như việc tìm long mạch ra sao. Xin nêu ra đây đoạn nhỏ trong sách “Tả Ao địa lý toàn thư” do Cao Trung biên dịch, đại ý nêu hai mạch: Mạch dương cơ và mạch âm phần. Mạch dương cơ nếu nhỏ thì dùng làm nhà, nếu lớn hơn làm doanh trại, hoặc rộng và tốt có thể dùng làm thị trấn, xây kinh đô, còn mạch âm phần dùng chôn cất.

Đại cương là vậy, về chi tiết còn có nhiều loại mạch khác như mạch mã tích tức mạch chạy như vết chân ngựa, lúc cạn lúc sâu. Mạch hạc tất tức mạch ở giữa nhỏ, hai đầu to ra dần, như gối của con hạc. Mạch phong yếu tức mạch nhỏ nhắn, phình ra to dần như lưng con ong.

Mạch qua đằng tức mạch không chạy thẳng mà ngoằn ngoèo như các thân cây bí cây bầu, có khả năng kết được bên trái hoặc bên phải đường đi của mạch nên được xem là loại mạch quý. Đất kết có hai loại: một loại dùng chôn xương người chết và một loại để người sống ở đều tốt.

Riêng đất để người sống ở, sách “Tả Ao địa lý toàn thư”đã đề cập đến đất dương cơ liên quan tới lịch sử nước ta: Trừ thời Hùng Vương được đất quá lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời nên quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long. Lý Công Uẩn nghe theo, dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được tám đời; và sau đó nhà Trần và hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm kinh đô, nên bền vững lâu dài hơn”.

Mãi đến đầu thế kỷ 18, sau gần 900 năm xảy ra sự kiện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, một tài liệu của Trung Quốc với tựa đề “Cao Biền di cảo” (cùng một số cuốn khác trước kia như An Nam cửu long kinh chẳng hạn) có nhắc đến việc Cao Biền sau khi đem 5.000 quân vượt biển tiến về hướng Nam năm 865 (được chi viện thêm 7.000 quân nữa vào năm sau 866) đã đánh chiếm nước ta và lập bàn đồng giữa trời, dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp thần bí để “tầm long” ráo riết.

Tầm long là phép tìm kiếm long mạch ngoài đất trống, như cụ Tả Ao chỉ rõ: “Chẳng qua ra đến ngoài  đồng/ Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường” và được học giả Cao Trung qua hằng chục năm nghiên cứu sách địa lý của Tả Ao giải thích rõ: Long mạch là mạch đất bên trong có chứa khí mạch, giống như trong cành cây có chứa nhựa cây.

Nó có thể chạy qua những dãy đồi núi cao, cũng có thể đi rất thấp, luồn qua sông qua suối, thậm chí qua biển rồi đột ngột nhô lên với những thớ đất lắm khi uốn lượn sà sà trên mặt ruộng như hình con rồng đang cuộn mình vươn tới để ôm chầu vào một huyệt đất nào đó (gọi là long nhập thủ). Nơi đó có thể hạ huyệt chôn cất, hoặc cải táng mồ mả cha ông để con cháu đời sau phát vương, phát tướng, phát trạng, phát tài lộc phú quý. Trước huyệt kết có đất nổi lên cao che chắn (gọi là án), hoặc  có gò bao quanh kết hình ấn kiếm, ngựa voi, chiêng trống (gọi là sa).

“Tả Ao địa lý toàn thư” ghi rõ muốn tầm long cần phải biết: Thái tổ sơn của toàn thể các cuộc đất xuất phát từ dãy Himalaya, phải biết Minh đường là nơi nước tụ trước huyệt để nuôi khí lành, biết Thanh long là thớ đất bên trái huyệt và Bạch hổ là thớ đất bên phải huyệt, cả hai ôm chầu vào huyệt kết. Biết về long sinh (mạch sống động như mãng xà vương đang phóng tới), long tử (mạch nằm ngay đơ như chiếc đũa tre), long cường (mạch nổi to như sóng lớn), long nhược (mạch lặng lờ như sóng nhỏ lăn tăn).

Những điều trên chắc hẳn Cao Biền đã ứng dụng trong cuộc “tầm long” trên toàn cõi nước ta để trấn yểm, nhưng đất phát vương của 12 đời vua Trần (chưa kể thêm đời hậu Trần) đã tồn tại vượt lên ý đồ của Cao Biền. Đó là vùng đất ở nguồn sông Phổ Đà, tức sông Luộc, nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay).

(Còn nữa)

Hoàng Anh Sướng

Bình luận