Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 2)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 8:39 10/05/2019 |

Cao Biền đã ứng dụng hiểu biết về long mạch của mình trong cuộc “tầm long” để trấn yểm đất phát vương của 12 đời vua Trần

Kỳ 2: Chuyện về dòng họ Trần phát vương trên đất kết

Khu di tích đền Trần ở Thái Bình

“Tả Ao địa lý toàn thư” ghi rõ, muốn tầm long cần phải biết Thái tổ sơn của toàn thể các cuộc đất xuất phát từ dãy Himalaya, phải biết Minh đường là nơi nước tụ trước huyệt để nuôi khí lành, biết Thanh long là thớ đất bên trái huyệt và Bạch hổ là thớ đất bên phải huyệt, cả hai ôm chầu vào huyệt kết. Biết về long sinh (mạch sống động như mãng xà vương đang phóng tới), long tử (mạch nằm ngay đơ như chiếc đũa tre), long cường (mạch nổi to như sóng lớn), long nhược (mạch lặng lờ như sóng nhỏ lăn tăn). Những điều trên chắc hẳn Cao Biền đã ứng dụng trong cuộc “tầm long” trên toàn cõi nước ta để trấn yểm, nhưng đất phát vương của 12 đời vua Trần (chưa kể thêm đời hậu Trần) đã tồn tại vượt lên ý đồ của Cao Biền. Đó là vùng đất ở nguồn sông Phổ Đà, tức sông Luộc, nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay).

Long mạch đất Việt

Trong cuốn “Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam”, tiến sĩ Đinh Công Vĩ đã miêu tả khá kỹ vùng đất này như sau: “Tổ sơn bắt nguồn từ đoạn giao giữa ba ngọn núi chồng lên nhau, lấy Tam Đảo làm gốc rồi cùng với ba ngọn Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị chụm lại. Long mạch của nó chạy theo hướng Đông Bắc -Tây Nam, thấp dần rồi chìm qua sông Thiên Đức (tức sông Đuống), đến làng Hà Liễu của châu Đằng (hiện chưa rõ địa điểm này ở đâu) mới đột khởi nổi lên một ngọn núi khác.

Rồi từ đấy, long mạch lại chạy tiếp từ làng Nhật Cảo đến làng Thái Đường (xã Thái Đường, huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay) và kết lại ở gò Sao. Phía trước gò ấy có 3 gò lớn là Tam thai, phía sau có 7 gò nhỏ là Thất tinh, xung quanh có đầm nước bao bọc, khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng như gương phản chiếu, đối mặt với các cù lao nhỏ hình đẹp như những bông sen đang nở, đấy là một trong 27 kiểu đất hậu sinh phát đế”.

Tương truyền, dòng họ Lưu và họ Tô là hai dòng họ đến sinh cơ lập nghiệp ở đây đầu tiên. Buổi sơ khai, ba anh em nhà họ Lưu gồm: Lưu Khánh Đàm, Lưu Ba, Lưu Lượng đến cư ngụ tại vùng đất phong thủy ở nguồn sông Luộc này. Về sau, cả ba người đều làm quan, trong đó Lưu Khánh Đàm được vua Lý Nhân Tông trọng dụng (khi vua sắp mất vào tháng chạp năm Đinh Mùi 1127 đã cho gọi Đàm vào nhận di chiếu để cùng Lê Bá Ngọc đưa hoàng thái tử là Lý Thần Tông lên ngôi trước linh cữu). Tên tuổi của Lưu Khánh Đàm (và Lưu Ba) đều được Ngô Sĩ Liên nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thư”.

Dòng họ thứ hai đến với đất phát vương là nhà họ Tô chuyên buôn tơ lụa, giàu có nhất nhì trong vùng. Có điều, cả hai dòng họ này chỉ phát phú chứ không phát vương. Mãi đến khi Trần Hấp từ hương Tức Mặc, xứ Hải Thanh đến thì “đất kết” mới ứng thành dòng vương giả. Trần Hấp sinh được 2 con trai là Trần Lý và Trần Thiện. Lớn lên, Trần Lý kết hôn với Tô Thị Hiền, 15 tuổi. Hai họ Trần, Tô kết thông gia, tạo thành thế lực mạnh nhất trong vùng.

Trần Lý có người bạn họ Phùng rất giỏi về khoa địa lý, thường xuyên đi khắp nơi tìm đất đặt mộ, được dân chúng kính nể, thường gọi là “thầy Phùng”. Thầy Phùng biết ở thôn Lưu Gia này có ngôi huyệt quý, kiểu đất “hậu sinh phát đế”. Là người thức thời lại am hiểu lý dịch, thầy Phùng biết vận nhà Trần sắp tới nên nói với Trần Lý ngôi huyệt quý này và khuyên Trần Lý nên dời mả tổ về chôn tại đây.

Nghe lời thầy, vào ngày lập thu, Trần Lý đã di dời mộ hiển tổ khảo từ Tức Mặc (Nam Định) và hiển tổ tỷ từ Lưu Gia đến gò Sao song táng. Công việc hoàn tất đúng giờ chính Hợi. Những người tham gia rà soát các vị trí và hình thể của long mạch lần cuối để đặt la bàn xác định nơi hạ huyệt cũng như hướng cải táng đều là người họ Trần. Chỉ duy nhất có thầy Phùng là người ngoài. Xong việc, bên trên mộ được san phẳng y như cũ để không lộ dấu vết.

Truyền thuyết về thầy địa lý người Tàu

Khi biết vận nhà Trần sắp tới, thầy Phùng bèn kể toàn bộ câu chuyện phong thủy ở gò Sao với con trai mình tên là Phùng Tá Chu để biết liệu thời thế. Quả nhiên sau này, Phùng Tá Chu đã giúp sức đưa Trần Cảnh (cháu nội Trần Lý) lên ngôi và lập nên nhà Trần từ đó. Ông được nhà Trần trọng dụng phong làm Hưng Nhân vương và được liệt vào các đệ nhất công thần lập quốc.

Bên cạnh câu chuyện thầy Phùng tìm được ngôi huyệt phát kết bá vương cho nhà Trần, dân gian còn lưu truyền một câu chuyện khác gắn liền với thầy địa lý người Tàu. Chuyện kể rằng, ông tổ họ Trần là Trần Kinh đến hương Tức Mặc (Nam Định ngày nay) lập nghiệp. Ông là người rất thạo sông nước, sống bằng nghề chài lưới. Ông có một người con trai tên là Trần Hấp.

Ba ngôi mộ lớn được cho là phần mộ của vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông tại Thái Bình ngày nay

Một hôm, có một thầy địa lý người Tàu sang nước ta xem đất. Vị thầy này thấy hướng long mạch chạy từ núi Tam Đảo đi xuống, qua Thăng Long rồi qua các xã Kệ Châu và Cao Xá (thuộc huyện Kim Động, Hưng Yên) có nhiều đống đất hoàn tụ. Thầy Tàu bèn cười nói rằng: “Đây là chỗ đóng quân và nấu cơm, huyệt phát kết chắc cũng ở gần đây”. Nói rồi ông tiếp tục đi. Đến gần huyện Ngự Thiên (nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình) thì không thấy vết tích đâu nữa.

Ngắm nghía hồi lâu, thầy Tàu nói: “Nước sông chảy mạnh, không lẽ huyệt lại ẩn tàng dưới đáy sông”. Nói đoạn, ông tìm cách vượt qua sông. Đến chỗ phát tích tại xã Nhật Cảo và chỗ kết cục tại xã Thái Đường, ông mới hạ la bàn để xem xét.

Như bị đất níu giữ, ông cứ quẩn quanh ở đấy mãi, không đi được. Đúng lúc đó có Nguyễn Cố – người xã bên đi đến, thấy người lạ tay cầm la bàn cứ quanh quẩn không đi bèn hỏi nguyên do. Thầy Tàu bèn than thở: “Không ngờ ở nơi bình địa mà lại có đất đế vương. Đáng chê các thầy địa lý thời nay không có nhãn lực”.

Nghe vậy, Nguyễn Cố liền năn nỉ: “Nếu quả là đất quý như vậy thì xin thầy chỉ cho tôi. Thầy muốn được tạ lễ bao nhiêu, tôi cũng xin nộp đủ”. Thầy Tàu ra giá 100 quan tiền và đòi chia nửa nước nếu Nguyễn Cố lấy được. Hai bên cùng thỏa thuận rồi đem mộ tổ táng vào huyệt tốt mà người thầy Tàu đã mách.

Mặc dù đã hứa hẹn như vậy nhưng thầy Tàu lại sợ Nguyễn Cố phản trắc nên dặn: “Táng xong tất có điềm lành. Nhưng trong hạn trăm ngày, thỉnh thoảng phải đến thăm nom. Nếu sau cơn mưa gió, sấm sét, thấy có sự lạ, thì lành ít dữ nhiều, phải táng đi chỗ khác ngay”. Sau khi táng xong mấy ngày, một đêm nọ bỗng có một tiếng sét rất to long trời lở đất.

Sáng hôm sau, Nguyễn Cố đi xem thì thấy ở các xã Tây Vệ và Thái Đường có nhiều hòn đá nhô lên khắp các vườn tược ao chuôm, gọi là đá tai mèo. Nguyễn Cố biết là được đất rồi, lấy làm mừng rỡ. Thế nhưng, vợ Cố lại bảo: “Ngôi đất ấy dầu là phát phúc nhưng gia đình ta làm sao lo được 100 quan tiền để trả công thầy Tàu?”. Thế là hai vợ chồng bàn nhau giết thầy.

Tối nọ, hai người cho vời thầy Tàu đến nhà rồi bắt trói lại, vứt xuống sông. May thay, đoạn sông nơi thầy Tàu bị vứt vốn là một bãi phù sa. Khi thủy triều rút xuống thì trơ lại một bãi đất khô. Sáng sớm hôm sau, có một chiếc thuyền đánh cá đi ngang qua đấy, nghe có tiếng người kêu cứu, vội tới cứu vớt đưa lên thuyền rồi hỏi duyên cớ.

Thầy Tàu kể hết đầu đuôi câu chuyện rồi chắp tay mà lạy rằng: “Nhờ có ông mà tôi được sống lại. Tôi xin đem ngôi đất quý ấy biếu ông để tạ ơn cứu mạng của ông. Tôi biết vận nhà ông sắp tới. Nếu sau này có thành công thì xin đừng quên tôi”. Người cứu vớt ông thầy Tàu đó là Trần Hấp.

Trần Hấp rất tin, bèn bí mật thực hiện kế hoạch của thầy Tàu nhằm chiếm lại ngôi huyệt đế vương từ dòng họ Nguyễn. Theo chỉ dẫn của thầy, chọn ngày Tân Dậu, tháng Đinh Tỵ, Trần Hấp đã di dời mộ tổ từ Tức Mặc về táng vào gò hỏa tinh ở đất Tinh Cương. Thế đất được mô tả như sau: “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa, dĩ sắc đắc thiên hạ”. Dịch nghĩa: “Phấn son cùng chiếu rọi/ Trước mặt nở hoa sen”.

Nghĩa là sau này ắt nhờ người phụ nữ có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ. Cuộc chuyển mộ cực kỳ tốn kém, tốn tới 1.000 hốt bạc. Xong xuôi việc đặt mộ, Trần Hấp di dời toàn bộ gia đình từ Tức Mặc về hương Tinh Cương. Ngày đi đánh cá, đêm về căn chòi bên mộ cha để trông nom, chăm sóc.

Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung… Trần Thừa sinh Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu (Hạo). 

Đến đời Trần Lý, dòng họ Trần đã giàu có và nổi tiếng khắp vùng. Vì có loạn Quách Bốc ở kinh thành, Trần Lý đã đón Hoàng hậu Đàm Thị cùng Thái tử Sảm về sống ở Lưu Gia (Lưu Xá), là gia trang giàu có nhất nước của Trần Lý, cách Thái Đường 4km. Trong thời gian lánh giặc ở đây, Thái tử Sảm đã đem lòng yêu và lấy Trần Thị Dung, người con gái tài sắc vẹn toàn nhất thiên hạ lúc bấy giờ. 

Vua Lý Cao Tông mất, Thái tử Sảm lên ngôi, phong cho Trần Lý (bố vợ) tước Minh Tự và phong chức Điện Tiền chỉ huy sứ cho cậu vợ là Tô Trung Từ (vốn là võ quan của triều Lý). Trần Thị Dung nghiễm nhiên trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ. Họ Trần dốc lòng giúp vua Lý dẹp loạn Quách Bốc, Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng… 

Phong thủy và phúc đức

Trần Thị Dung sinh được hai công chúa là Chiêu Hoàng và Thuận Thiên. Năm 1225, Chiêu Hoàng (lúc này đang làm vua) đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Từ đó họ Trần làm vua ở Việt Nam, trải 175 năm (1225-1400). Tính từ khi Trần Hấp di dời mộ cha về hương Tinh Cương, đến khi nhà Trần lên ngôi là 70 năm. Đối chiếu với câu sấm “Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa, dĩ sắc đắc thiên hạ” thì quả là nhà Trần được nước nhờ người con gái đẹp, tài sắc.

Nhà ngoại cảm Nguyễn Cung Hà

Nhớ ơn tới công lao của thầy phong thủy năm nào, nhà Trần đã đối xử với con cháu họ rất hậu. Những đời vua đầu, con cháu thầy phong thủy phong làm quan, được cấp đất, chu cấp tiền. Song càng về sau, các vua Trần càng thờ ơ, đối xử lạnh nhạt với con cháu thầy phong thủy khiến họ phật lòng. Bản thân nhà Trần về đời sau mỗi lúc mỗi suy nên đã cho người đến xin bản sấm thư mà thầy phong thủy xưa để lại.

Vua Trần xem sấm thư thấy nói: “Ngôi mộ phát tích ở Thái Đường nay sắp hết thịnh, cần phải khơi thông thủy đạo thì mới giữ được lâu dài”. Vua Trần tin lời nói ấy, bèn chiểu theo họa đồ ở sấm thư đào một thủy đạo từ sông Cái (tức sông Hồng) xã Phú Xuân đi vào, quanh đến xã Thái Đường. Không ngờ đào đứt long mạch, họ Trần suy rồi bị Hồ Quý Ly thoán đoạt.

Hiện nay, danh tính con sông này không còn ai biết tới. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, ở Thái Đường hiện nay vẫn tồn tại một con sông có tên là sông Thái Sư. Tương truyền rằng, con sông này được đào vào thời cuối nhà Trần và do thái sư Hồ Quý Ly thực hiện. Con sông Thái Sư ngày nay được bắt nguồn từ xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, chạy vòng qua khu tông miếu nhà Trần và đổ ra cửa sông gần đó. Nó có điểm tương đồng khá lớn với con sông làm đứt long mạch trong truyền thuyết.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, chuyên gia phong thủy Phạm Cương cho biết: “Phong thủy là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và môi trường sống như hướng gió, mạch khí, mạch nước, cấu trúc sông núi… nên khi một trong những yếu tố này thay đổi sẽ ảnh hưởng ít nhiều cục diện phong thủy của cả một khu vực. Khoa học phong thủy về phong âm phần cho rằng, người chết có ảnh hưởng tới dòng họ, tới con cháu còn sống trên dương gian.

Với kinh nghiệm của tôi điều đó có cơ sở. Còn chuyện phát phúc đến đâu, phát đế vương hay phát công hầu, khanh tướng thì việc đó cần phải bàn thêm”. Cũng theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương thì sự phát đạt của một dòng tộc, vương triều phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố phong thủy. “Trong phong thủy còn có câu “tiên tích đức hậu tầm long”. Tức là một dòng họ muốn kết phát thì trước nhất phải lấy đức làm đầu, sau đó mới tính tới chuyện tìm phong thủy.

Nếu dòng họ có đức độ thì mới phát huy hết được yếu tố cát lành của huyệt mộ phát kết. Còn khi mạt phúc, hết đức thì huyệt tốt cũng như không. Cứ theo câu chuyện ở trên, thì ngôi mả phát đế vương ban đầu dành cho Nguyễn Cố nhưng người cuối cùng được huyệt tốt lại là Trần Hấp. Thế mới biết, đức của dòng họ Trần thật lớn vậy. Nếu cứ đặt một giả thiết là Nguyễn Cố được ngôi mả đó, nhưng nếu không có phúc thì kiểu gì ngôi mả đó cũng bị xâm phạm, dần dần mà kém đi thôi”.

Theo nhà phong thủy Nguyễn Cung Hà, những ngôi huyệt phát đế vương bao giờ cũng là ngôi huyệt kết hợp được tất cả những gì tinh túy nhất, tuyệt vời nhất và trường hợp như vậy cũng phải hàng trăm năm mới có một lần. Bởi vậy, những mảnh đất phát đế vương thường là do khí thiêng sông núi hun đúc tạo nên khí sắc thanh tú, mượt mà. Chính vì thế mà ngôi huyệt quý này được nhắc tới không chỉ ở dã sử mà còn trong chính sử nữa.

Việc sụp đổ của một triều đại không thể chỉ do một yếu tố đơn lẻ. Cho đến giờ, những nguyên nhân khiến cho nhà Trần sụp đổ cũng được rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử giải thích, phân tích. Điều này là quá hiển nhiên rồi.

Tuy nhiên, nghi vấn nhà Trần do đào sông mà làm mất vượng khí cũng chỉ là một giả thuyết trong dân gian, không có chứng cứ xác thực về lịch sử. Dẫu vậy, nó cũng là một giả thuyết mà đến nay, chưa ai chứng minh được nó là bịa đặt.

(Còn nữa)

Hoàng Anh Sướng

Bình luận

Bạn có thể quan tâm