Những chuyện kỳ bí về phong thủy qua các vương triều (Kỳ 3)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 11:50 16/05/2019 |

Vùng đất xứ Thanh tự hào đã sản sinh ra hai vị hoàng đế anh hùng mà tên tuổi đã đi vào lịch sử dân tộc, đó là Lê Đại Hành và Lê Thái Tổ. Cả hai vị hoàng đế anh hùng ấy đều sinh ra ở đất Thanh Hóa, trong đó, địa danh Lam Sơn được rất nhiều các bậc thầy phong thủy nhắc đến như là vùng đất địa linh sản sinh ra nhân kiệt.

Kỳ 3: Lam Sơn tụ khí, vùng đất hai vua

Mộ phần vua Lê Lợi

Đất lành

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép rằng: “Ông tổ ba đời của vua Lê Lợi là Lê Hối, có lần đến Lam Sơn, đã trông thấy đàn chim đông đúc ríu rít bay lượn quanh chân núi, giống như cảnh đông người tụ hội. Ngay lúc ấy, Lê Hối nghĩ rằng: “Đây hẳn là chỗ đất tốt” như thể núi Lam Sơn có một lực hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim đàn về tổ nên quyết định chuyển nhà đến đấy ở”.

Những ghi chép trên của Ngô Sĩ Liên tuy vắn tắt, song cũng đã cho chúng ta thấy một trong những biểu hiện nổi bật liên quan đến phong thủy của vùng đất phát vương. Vùng đất ấy không phải là nơi “sơn cùng thủy tận”, cũng không phải nơi “tuyệt địa” vắng vẻ mà là nơi “chim tụ hội thành đàn” đông vui, ríu rít, là đất “tụ khí tàng phong” khác hẳn với những miền hung địa.

Hung địa theo thuật ngữ phong thủy là đất chu tước bi khốc (chim cất tiếng kêu sầu), hoặc đất bạch hổ hàm thi (con hổ đang ngậm xác chết trong miệng), hoặc xương long vô túc (rồng không có chân, rồng bị tật nguyền)…

Theo truyền thuyết, nhà họ Lê được các thầy địa lý, các nhà sư thượng thừa về phong thủy chỉ dẫn và báo mộng cho biết một huyệt đất phát vương ở động Chiêu Nghi. Theo cụ Tả Ao, đất phát vương phải là đất hợp đủ các điều kiện được cụ diễn tả qua mấy câu lục bát sau đây: “Ngũ tinh cách tú triều nguyên/ Kim, mộc, thủy, hỏa bốn bên loan hoàn/ Thổ tinh kết huyệt trung ương/ Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời”.

Tượng Lê Lợi

Theo cụ Tả Ao, muốn nhận diện được đất phát vương phải chú ý quan sát hình dáng của cuộc đất (theo ngũ hành) gồm: hình tròn thuộc kim tinh (con Kim), hình doi thuộc mộc tinh (con Mộc), hình vuông thuộc thổ tinh (con Thổ), hình nhọn thuộc hỏa tinh (con Hỏa), hình sóng thuộc thủy tinh (con Thủy). Theo đó, con Thổ phải ở vị trí chính giữa (kết huyệt trung ương) và các con Kim, Mộc, Hỏa, Thủy sẽ tuần tự vây quanh. Căn cứ vào đó có thể thấy, Lam Sơn là đất cát tường, đất tụ nghĩa, đất xưng vương.

Quả thật, khi tổ nhà Lê là cụ Hối dời về ở Lam Sơn thì chỉ sau 3 năm đã gây thành sản nghiệp lớn. Từ đó trở đi, các thế hệ họ Lê thay nhau làm quân trưởng ở Thanh Hóa. Cụ Lê Hối sinh ra Lê Đinh, nối được nghiệp nhà, người gần xa đến qui phụ, trong nhà đông tới hàng ngàn người.

Lê Đinh lấy vợ là Nguyễn Thị Quách, sinh được hai người con trai: con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy Trịnh Thị Ngọc Thương là con gái của viên Đại toát hữu – một chức tướng quân thời Trần. Hai ông bà ở làng Lam Sơn thì các tù trưởng người Ai Lao kéo đến cướp phá, hai cụ chuyển tới Thủy Chú, sinh ra Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi và ba người con gái là Quốc thái trưởng công chúa Ngọc Tá, Quốc trưởng công chúa Ngọc Vĩnh và Quốc trưởng công chúa Ngọc Tiên.

Ẩn mình mưu đồ nghiệp lớn

Lê Lợi lớn lên giữa lúc nước Đại Việt có nhiều biến động. Năm ông 16 tuổi (1400), Hồ Quý Ly sau nhiều năm nắm quyền đã truất ngôi của Trần Thiếu Đế, lên làm hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên Nhà Hồ. Năm 1946, nhà Minh (Trung Quốc) vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu từ lâu, nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi Nhà Trần đã đưa quân tràn vào đất Việt. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407 thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương và cháu nội là Hồ Nhuế. Nhà Hồ sụp đổ, người Việt rơi vào 20 năm dưới sự cai trị của nhà Minh.

Khu lăng mộ vua Lê Lợi tại di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Theo sách “Đại Việt thông sử”, trong thời kì Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Lê Lợi chỉ ở nhà đọc sách, nghiền ngẫm binh pháp, giữ mình chờ thời. Đến khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ, Lê Lợi ngầm có chí khôi phục quốc gia nên hạ mình tôn người hiền, bỏ tiền của ra nuôi binh sĩ, thu dụng những người mắc lỗi và chống đối nhà Minh, được nhiều người qui phục.

Tướng Hoàng Phúc nhà Minh biết tiếng đã trao cho ông chức quan để dụ theo nhưng ông không chịu khuất phục. Ông bảo: “Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?”. Theo sách “Lam Sơn thực lục”,  Lê Lợi “ẩn dấu ở núi rừng làm nghề cày cấy, đọc sách kinh, sử, nhất là chuyên tâm về các sách thao lược. Hậu đãi các tân khách, chiêu nạp kẻ trốn, kẻ làm phản, ngầm nuôi kẻ mưu trí. Bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ côi cút, nghèo nàn. Hậu lễ, nhún lời, để thu bọn anh hùng hào kiệt, đều được lòng vui vẻ của họ”.

Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú… phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước.

Ông nói với mọi người: “Ta cất quân đánh giặc không phải là có lòng ham muốn phú quý mà chính vì muốn để ngàn năm về sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược”. Phép dùng binh của Lê Lợi là biết lấy mềm đánh cứng, lấy yếu thắng mạnh cho nên phần nhiều đều dẫn tới thắng lợi. Các thành Nghệ An, Thuận Hóa, Tây Đô, Đông Đô đều sai văn thần Nguyễn Trãi viết thư, dụ bảo bọn giặc điều họa phúc, nên không cần đánh mà chúng phải đầu hàng, chưa từng giết lạm một người nào.

Hình ảnh điện Kính Thiên vào thế kỷ 19, nơi Lê Lợi tuyên bố lên ngôi vào năm 1428

Năm 1426, Lê Lợi cử 3 đạo quân tiến ra Bắc, trong khi nhà Minh cử một lực lượng lớn do Vương Thông chỉ huy sang tiếp viện. Hai cánh quân của Lê Lợi kết hợp với nhau, đánh bại quân Minh ở trận Tốt Động – Chúc Động, ép Vương Thông lui vào Đông Quan cố thủ. Nghe tin, Lê Lợi lập tức mang đại quân ra Bắc, tổ chức lại quân đội, phân chia hành chính, ban hành các đạo dụ răn quân lính và nhân dân, lập thế trận bao vây quân Minh.

Nhà Minh lại tiếp tục sai các tướng Liễu Thăng, Mộc Thạnh mang quân sang tiếp viện. Lê Lợi sai quân ngăn chặn và đánh bại hoàn toàn hai đạo quân tiếp viện này. Vương Thông cùng đường phải xin hòa với quân Lam Sơn khi chưa được sự cho phép của triều đình Minh.

Bất chấp sự phản đối của tướng lĩnh và dân chúng, Lê Lợi không những cho phép quân Minh được rút lui an toàn mà còn chu cấp vật tư như thuyền bè, tu sửa đường sá cho họ. Đến ngày 17 tháng 12 năm 1427 (âm lịch) quân Minh chính thức về nước, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thay mình làm bài “Bình Ngô đại cáo” bá cáo cho thiên hạ biết về việc quân Minh đã giảng hòa, rút quân về nước, Nam Bắc thôi việc binh đao, thiên hạ đại định.

Đất nước thái bình

Ngày 15 tháng Tư năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi Vua tại điện Kính Thiên xưng là “Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương”, đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố “Bình Ngô đại cáo”. Đây chính là tuyên ngôn độc lập lần thứ 2 của tổ quốc ta.

Lê Lợi đã xây dựng lại khoa cử, luật lệ, kinh tế, chế tác lễ nhạc, đồng thời thu thập lại sách vở, mở mang trường học… làm cho nước Đại Việt được thịnh trị. Ông còn mở các chiến dịch quân sự trấn áp các cuộc bạo động ở vùng Tây Bắc Đại Việt, đánh bại quân Ai Lao.

Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), hưởng thọ 49 tuổi. Mộ táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn, Thanh Hóa, trị vì được 5 năm. Thực hư về đất phát vương ở Chiêu Nghi như thế nào chúng ta chưa bàn tới. Chỉ căn cứ trên chính sử thì năm Lê Lợi 33 tuổi (Mậu tuất 1418) đã dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn.

Trong khoảng 10 năm sau đó đuổi sạch quân Minh xâm lược, bắt sống tướng tá và 10 vạn viện binh của nhà Minh đều tha cả, không giết, đại định thiên hạ, lên ngôi hoàng đế vào ngày rằm tháng tư (Mậu Thân 1428) và lập tức xuống chiếu tha thuế cho dân chúng cả nước. “Các thứ thuế như tô ruộng, vàng bạc, đầm phá, bãi dâu trong cả nước đều tha (không thu thuế) trong 2 năm”.

Và ban bố nhiều điều lợi ích cho dân chúng. Đó là cách tích đức của bậc đế vương, vừa tỏ lòng thương dân, vừa thuận ý trời (thuận thiên), vừa để phúc cho con cháu đời sau. Điều đó phù hợp hoàn toàn với lời giáo huấn lưu truyền từ lâu đời trong truyền thống nhân nghĩa và trong đời sống tinh thần của các thầy địa lý, các nhà phong thủy là “Tiên tích đức, hậu tầm long”.

(Trước hết cần phải chứa đức rồi sau đó hãy tìm long mạch). Phải chăng việc tích đức của Lê Lợi đã dẫn đến kết quả tốt đẹp là sự tồn tại của nhà Lê kéo dài từ thời Lê sơ với 10 đời, gồm 100 năm (1428 – 1527), đến thời Lê trung hưng với 16 đời, gồm 265 năm nữa (1533 – 1789) qua các triều Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn?

(Còn nữa)

Hoàng Anh Sướng

Bình luận

Bạn có thể quan tâm