“Ông Tây” hơn 30 năm vui cùng với… khỉ

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 6:47 18/06/2020 |

Nếu kể về các “quái kiệt” trên đất Việt Nam, những người mà hoạt động và sự ảnh hưởng tích cực của họ đã lan tỏa đầy nhân văn trong cộng đồng, thì không nên bỏ qua gương mặt những ông Tây kiểu như ngài Tilo Nadler chúng tôi sắp kể ra đây.

Tilo Nadler 2
Tilo Nadler 30 năm gắn bó với rừng Việt Nam để bảo tồn linh trưởng

Tilo Nadler đã được nhận Huân chương Lao Động hạng Ba từ Chủ tịch nước Việt Nam, nhận nhiều Bằng khen của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Là người Cộng hòa Liên bang Đức, sinh ra trong một gia đình gốc Do Thái thành đạt, chàng thanh niên Tilo Nadler say mê kĩ thuật, học chuyên ngành điện tử điện lạnh.

Theo tiếng gọi của loài mông trắng, chỉ còn trong… bộ sưu tập tem

Ra trường, Tilo Nadler làm quản lý và bảo dưỡng hệ thống điều hòa cho Bảo tàng tự nhiên của Đức. Từ việc hàng ngày nhìn các tiêu bản động vật, nhìn thế giới tự nhiên được “hồi sinh” trong thế giới trưng bày rất nhân văn, Tilo tự hỏi: Tại sao con vật bị giết rồi mình mới gặp và cảm nhận “thi thể” của chúng một cách đáng buồn như thế này nhỉ? Dần dà, Tilo muốn đi vào thiên nhiên để tìm hiểu.

Đúng lúc đó, có một thông tin đặc biệt làm xôn xao giới bảo tồn thế giới. Năm 1982, tức là cách đây gần 40 năm rồi, người ta bảo, có sự xuất hiện trở lại của một loài linh trưởng (thuật ngữ dùng để chỉ phân loài như vượn, voọc, khỉ, cu li) – người Việt Nam thường gọi chung là “khỉ” – đặc biệt ở khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương của Việt Nam. Con này, dịch nôm na ra tiếng Việt là con voọc quần đùi trắng, hay voọc mông trắng.

Tilo Nadler 3
Tilo Nadler lấy tên vợ và con mình đặt tên cho các con vật mà ông yêu quý

Loài voọc này từng được một nhà động vật học người Pháp “phát hiện” và công bố vào những năm 1930 của thế kỉ trước. Thế giới rất chú ý đến vẻ đẹp và sự phân bố đặc hữu ở vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam của chúng. Bỗng đùng một cái chúng bị các thợ săn giết vãn. Đến những năm 1960, người ta phải đau đớn ghi nhận là voọc quần đùi trắng đã biến mất khỏi sự quan sát và hiểu biết của nhân loại tiến bộ. Vài nhà khoa học chỉ còn “ngắm” voọc mông trắng qua một con tem ố vàng của một nhà sưu tập châu Âu.

Vì thế, khi nghe tin voọc mông trắng trở lại, Hội Động vật học Frankfurt đã quyết định cử chuyên gia sang Việt Nam “thám thính”. Tilo Nadler, với tinh thần muốn xông pha núi rừng, hòa nhập với thiên nhiên, đã xung phong lên đường.

Sang Việt Nam lần đầu vào năm 1982, lúc mà nơi này vừa ngơ ngác giữa thời bao cấp khó khăn kéo dài. Tilo rất ngạc nhiên, tại sao lại ít ô tô xe máy thế, toàn là xe đạp trên phố. Lạ nhất là ở rừng người ta đi bắt thú ngang nhiên, con thú là thức ăn khoái chá, chứ không phải là đối tượng chiêm ngưỡng hay nghiên cứu hoặc chăm bẵm trong bảo tàng tự nhiên một cách chi li cầu kỳ như ở Đức.

Cùng 3 cộng sự từ Đức bay sang, thuê thêm vài người bản địa dẫn đường, Tilo đi vào rừng già Cúc Phương. Đây là vườn quốc gia ra đời đầu tiên ở Việt Nam và mang tiếng là được bảo tồn bài bản nhất, sớm nhất, lẽ ra là phải “nguyên trạng” nhất. Họ dựng lều bằng lá chuối trong rừng, mang theo cả máy quay phim hiện đại nhất lúc bấy giờ, đem cả thiết bị ghi âm định hướng để dò tìm voọc mông trắng nhưng chẳng thấy đâu.

Cả nhóm thất thểu trở ra, tìm cách tiếp thêm lương thảo, đi rừng tiếp. Sáng ấy, Tilo ra thăm chợ Nho Quan, gần ngay khu Vườn Quốc gia Cúc Phương thì thấy người ta bán mấy cái lồng đan bằng tre, ở đó có linh trưởng bị thương đang kêu khóc. Gọi kiểm lâm đến xem, thì ôi thôi, hóa ra họ bẫy được voọc mông trắng, mấy con “linh hồn núi rừng” gãy cả chân tay, máu me be bét. Vài bợm nhậu mua về, nói là để làm món giả cầy.

Một Donkihote, một hiệp sỹ sinh thái xả thân

Sau chuyến đi, Tilo vào rừng với niềm tin rằng voọc còn nhiều lắm. Không bảo tồn nhanh thì người ta nấu giả cầy hết. Ông mời thợ săn đi dẫn đường. Và những thước phim, các tấm ảnh, rồi sau này là các cuốn sách mà Tilo và vợ (là người Việt Nam) viết đã làm bao thế hệ phải thổn thức.

Cũng từ chuyến đó, nỗi đau của thiên nhiên hoang dã Việt Nam đã ngấm vào Tilo. Khi về Đức, trình chiếu, nghiệm thu bộ phim tài liệu về voọc mông trắng, Tilo Nardler còn đầy nhiệt huyết và trăn trở làm một đề án cứu giúp đàn voọc và nhiều loài hoang dã khác.

Thật không ngờ, 9 năm sau, vào năm 1991, một chuyến bay định mệnh xuyên lục địa đã đưa Tilo gắn bó suốt 30 năm qua với đất nước Việt Nam. Một lịch làm việc dày đặc với kiểm lâm, chính quyền được Tilo và cộng sự vạch ra. Các con vật bị bắt, bị nuôi giữ trái phép, bị thương, bị bệnh phải được cứu chữa rồi cho sinh sản để bảo tồn nòi giống. Sau đó, các cơ quan hữu trách cần thành lập các khu bán hoang dã, giúp động vật phục hồi các tập tính tự nhiên, rồi thả chúng trở lại với bà mẹ thiên nhiên.

Công việc bề bộn ở một nơi mà các khái niệm vừa kể ở trên còn quá lạ lẫm. Vì thế, chính Tilo Nadler cũng bất ngờ. Đi theo tiếng gọi của voọc mông trắng đã hơn 30 năm ròng, Tilo vẫn chưa hoàn thành phận sự mà số phận và nhân cách đã giao phó cho mình. Quãng đời đẹp nhất, xả thân cống hiến nhất, ông đã dâng tặng cả cho thiên nhiên Việt Nam.

Giờ đây, ở tuổi gần 80, Tilo Nadler vẫn sống tại một quả đồi ở cổng khu Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Ông làm cố vấn về bảo tồn cho kiểm lâm Ninh Bình, làm chuyên gia bảo tồn linh trưởng cho cả Việt Nam và nhiều quốc gia, 25 năm liên tục ông là Giám đốc Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Cúc Phương nổi tiếng (với nhiều kỷ lục thế giới).

Cái mà người Việt Nam trọng ở Tilo hơn cả là nhân cách của một người tận hiến cho niềm đam mê tử tế vì cộng đồng. Nhiều người gọi ông là “linh trưởng Chúa”. Ông đã cầm dùi cui điện chiến đấu quả cảm như một “cỗ xe tăng Đức” ở các cửa rừng. Rừng bảo tồn, rừng đặc dụng thì không ai được vào, nếu chưa được kiểm lâm và lực lượng bảo vệ cấp phép. Đó là luật của Việt Nam và quốc tế, mà ông nghĩ là cần phải thượng tôn.

Có người cảm mến, trân trọng ông, cũng có người bị mất quyền lợi khai thác lâm sản và họ quay lại “ra đòn” chống lại Tilo. Có lần đã xảy ra xung đột, Tilo được cấp một dùi cui điện, một roi điện, ông đã rút ra để khống chế các đối tượng. Vừa “chiến đấu”, ông vừa ngửa mặt lên trời tức giận thét: “Why! Why?”(Vì sao, vì sao lại làm các việc vô lý thế?).

Nhiều cán bộ mỉm cười bảo ông Tilo quá “hâm”. Người ta đi hái măng hái nấm cũng không cho. Nhưng, đúng là chỉ có làm nghiêm luật pháp, thì mới bảo tồn thật sự được. Vì thực tế, Tilo Nadler quá biết, nhiều người mượn danh hái măng hái nấm để đi chặt cây cổ thụ hoặc bẫy voọc đem ra chợ bán làm món giả cầy.

Có lần, thấy trong quán người ta ăn chim sẻ, chim ri, ông đã đứng dậy hầm hầm bỏ đi. Ông không chấp nhận việc bắn rụng cả bầu trời lãng mạn với những cánh chim thương mến để ăn rau ráu. Có lần, ông đi bắt các đối tượng nhồi trấu con hổ, con voọc để trưng bày. Họ chống lại, bảo: Tài sản tôi mua được, ông không được thu, giờ ông giở luật ra tôi thấy ông nói đúng.

Nhưng tôi mua nó 10 triệu, ông bù 10 triệu đồng cho tôi. Tilo liền đi vay tiền trả cho người đó, rồi bắt viết giấy xác nhận. Sau đó, ông cầm tờ giấy đó lên gặp ông Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam để đề nghị “thanh toán” tiền thu mẫu vật vi phạm. “Tôi làm để bảo vệ “luật pháp” của Việt Nam thay các ông”, Tilo nói. Với Tilo như thế là đạo đức.

Voọc mông trắng

Tilo có thể lái xe gần hai nghìn cây số để cùng với công an và kiểm lâm tịch thu các con linh trưởng bị nuôi nhốt trái phép. Có lần, tôi vô cùng bất ngờ khi chứng kiến Tilo Nadler đi giữa nắng, bế một con voọc con vừa thu giữ được của thợ săn.

Con voọc trông rất yếu vì bị ốm và nắng nóng, Tilo bẻ lá rừng thành bó, giơ lên làm cái ô màu xanh che cho nó, còn mình cứ đỏ như con tôm luộc đứng chày chày giữa đường chờ sửa xe đi tiếp. Có lẽ vì thế, Tilo được nhiều người gọi là “Donkihote của rừng Việt”, hiệp sỹ sinh thái Tilo.

Hơn 30 năm quăng quật trong rừng Việt, ông từng có khi kiến nghị đanh thép cách chức, kỷ luật một lãnh đạo công an huyện đối xử tàn ác với động vật ở Quảng Nam. Có khi, Tilo tố cáo lên tận trung ương, cùng nhà báo rình từng đại gia trọc phú nuôi động vật quý hiếm làm vui, như vụ ở Hà Nam.

Có khi, ông biến mình thành “điệp viên” điều tra giải cứu từng con voọc bệnh tật ở Quy Nhơn, ở Tây Nguyên hay Sài Gòn. Suốt gần 30 năm qua, đàn linh trưởng của Việt Nam được cứu giúp đã nối đuôi nhau viết nên một huyền thoại yêu thiên nhiên mang tên Tilo Nardler. Tilo cũng là “bà đỡ” đầu tiên trên thế giới, giúp nhiều loài quý hiếm lần đầu tiên sinh nở trong trạng thái nuôi nhốt. Và, ông lấy tên mình, tên vợ mình (Nguyễn Thu Hiền), tên hai con trai “Tây lai” của mình ở Việt Nam để đặt tên cho từng con voọc thương mến…

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm