Thầy trò viết chữ lên cổ tay, lá chuối và… lưng trâu!

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 7:03 25/09/2020 |

Ngược dòng thời gian, thầy giáo Nguyễn Văn Bôn nhớ lại những ngày đầu lên với người Hà Nhì: “Chưa bao giờ tôi có cảm giác sợ hãi như chuyến xe tải từ Sơn La vào tới thị trấn Lai Châu ngày ấy. Tôi phải đứng và bám vào thành xe suốt 2 ngày trời, hễ ăn một chút gì đó vào là lại nôn”.

thầy giáo Nguyễn Văn Bôn
Một người học trò giữa núi rừng bị gấu tát thương tật đầy mặt mà ông Bôn rất mực thương yêu

Mất 3 ngày 3 đêm đi bộ để vào được nơi sẽ dựng trường

Anh hùng Giáo dục Đầu tiên của Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Văn Bôn xúc động kể tiếp: “Từ thị trấn Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay) chúng tôi đi bộ đúng 3 ngày để vào tới huyện lị Mường Tè. Có ngày phải đi bộ tới 50km, một bên núi cao vút trời, một bên là vực thẳm mênh mông kéo hút xuống lòng sông Đà. Chúng tôi tổng kết có tới 42 cái sợ ở con đường này.

Đến tận giờ tôi vẫn nhớ y nguyên cảm giác khiếp sợ lúc anh em gặp một con rắn bạo trêu người. Có đoạn ngót chục cây số, chúng tôi chỉ… có chạy. Vì xung quanh đường toàn vắt là vắt, những con vắt gặp hơi người là ngóc đầu dậy, đầu nó nhọn như lưỡi mác. Vắt hút no máu, người nó đỏ như cục máu to bằng đầu ngón tay út người ta rồi buông mình “nhảy dù” chạy trốn.

Để vào được Mường Tè, phải nghỉ lại 3 đêm dọc đường. Chặng thứ ba là dài nhất (khoảng 50km), bởi phải vượt qua dốc Mường Mô. Đời tôi không bao giờ quên được con dốc ấy. Đỉnh Mường Mô, mây bay mù mịt, gió thổi hun hút, lạnh rét căm căm. Lúc xuống dốc mới là vất vả, chân bật máu. Chúng tôi leo núi bằng cái cách mà có lẽ lịch sử loài người chưa từng nghe thấy: Nhúng áo bông xuống suối cho nước ngấm vào, rồi cứ thế khoác áo bông ướt lên vai và đi. Đi đến lúc áo bông khô ron, lại nhúng xuống suối tiếp. Từ chân dốc Mường Mô, vượt qua một con suối là vào đến huyện lị Mường Tè.

Vài dãy nhà lá của cán bộ vùng cao, không có dân ở, đó là chân dung huyện lị Mường Tè cách đây hơn 60 năm. Nghỉ một đêm, sáng ra tôi được một anh chàng đầu tóc bù xù người Hà Nhì (bấy giờ gọi là người U-ní) dẫn vào Mù Cả. Đường đi mất đúng 3 ngày nữa, dĩ nhiên là chặng này còn gian khổ hơn. Anh chàng đầu rậm cầm theo một con dao quắm, vừa đi vừa vạch cỏ, phát cây mở đường. Đường hẹp, vắt nhiều”.

“Sau một đêm ngủ ở bản người Thái dưới chân dốc núi; chúng tôi khởi hành từ lúc trời còn âm u. Khi bình minh lên, những tia nắng rọi vào các mẩy vàng ở bãi cát sông Đà lung linh, kỳ ảo. Có chuyện rất lạ là thế này: Sẩm tối hôm ấy, khi ngủ nhờ ở một bản Thái, rõ ràng con đường chúng tôi đi đầy cây dại, chỉ đặt vừa bàn chân người; thì sáng hôm sau, ngủ dậy, tôi thấy nó đã thành một con đường rộng tới 2m, cắt ngang quả đồi. Đất trắng tơi lên. Hỏi ra mới biết đêm qua có đàn voi đi qua, nó để lại một con đường làm dấu vết!

thầy giáo Nguyễn Văn Bôn 1
Vị anh hùng già vắt kiệt sức leo núi về với dân bản

Bản đầu tiên của Mù Cả mà chúng tôi đặt chân đến là Ma Ký. Với 11 nóc nhà, không một ai biết tiếng Kinh, người Hà Nhì ở đây nắm tay tôi rồi chỉ biết… cười. Nhà cửa lụp xụp, tối om, toàn bộ là tường đất, dày khoảng 0,8m; vững như pháo đài. Cột nhà bằng thân cây tươi không gọt đẽo chôn xuống đất. Mái nhà lợp bằng gianh và cỏ, cũng dày tới gần 1m, mọc toàn cây dại xanh um, chim đậu ríu rít trông rất kỳ lạ

. Lại nữa, trên mái nhà thường treo lủng lẳng mấy miếng thịt lợn mà họ ăn thừa từ Tết năm trước. Tết ở đây diễn ra sau mùa gặt, khoảng tháng 10, tháng 11 Dương lịch. Họ giết lợn, bò, ăn uống, nhảy múa, hát những bài ca u buồn kể về nguồn gốc loài người, về tổ tiên người Hà Nhì. Sau Tết, họ cắt số thịt còn lại thành miếng dài 30-40cm rồi buộc vào lạt, treo lủng lẳng trên mái nhà.

Nam giới ở bản Hà Nhì thường mặc quần áo màu nâu, rách rưới, mặt họ nhọ nhem rất ngộ. Còn nữ giới trang phục sặc sỡ, thêu thùa cầu kỳ – vạt áo, cả ống quần của họ đều treo lủng lẳng những vỏ cây, vỏ sò, vỏ hến (người giàu hơn thì đeo đồng xu, đầu đội khăn có tua, cũng treo lủng lẳng các thứ đó). Giữa nhà có một đống lửa không bao giờ tắt. Mâm dọn ra một cái chõng tre đan bằng mây. Bữa cơm dọn ra, dù ai ở đâu đến cũng phải ngồi ăn, mà chẳng cần chào hỏi gì hết. Cơm ăn với măng và lá rừng, rượu uống bằng bát.

Đi đến ngày thứ 3 thì tới bản Mù Cả. May mắn là đã có một đồng chí cán bộ cơ sở người Kinh “cắm” ở đây được vài tháng rồi. Đồng chí này tên là Lê Văn Biên, ngoài 40 tuổi, người Thanh Hóa, từng hoạt động ở Lào, vừa được điều về Mù Cả gây dựng phong trào. Thật không tin được, cả Chủ tịch Ủy ban lẫn Bí thư Đảng ủy xã Mù Cả cũng mới chỉ được đề bạt chừng 2-3 tháng trời, hầu như không biết gì! Xã có 500 người dân, sống rải rác suốt 11 bản cheo leo trên các sườn núi.

Cá biệt có bản chỉ có 3 gia đình ở tít mãi trong rừng sâu, muốn đi tới bản gần nhất phải mất 2 ngày đường. Bọn phỉ vẫn thường hoạt động trong khu vực, thỉnh thoảng bà con quen biết phỉ vẫn lên nương tiếp tế gạo muối cho chúng. Cả xã không một ai biết chữ hoặc biết tiếng phổ thông, kể cả Chủ tịch lẫn Bí thư. Ủy ban huyện phải thuê người Thái biết tiếng Hà Nhì lên để phiên dịch cho 2 cán bộ người Kinh suốt một năm trời (đến khi chúng tôi học được tiếng Hà Nhì)”, thầy giáo Nguyễn Văn Bôn nhớ lại.

thầy giáo Nguyễn Văn Bôn
Trong lần đầu trở lại Mù Cả sau nửa thế kỷ xa cách, thấy học trò còn vất vả, Anh hùng Bôn đã bỏ tiền túi hỗ trợ nhiều bà con, đồng thời kiến nghị chính sách về nội dung này

Có ông già bắt hổ con về nuôi rồi tặng Vườn thú Thủ Lệ

5 năm gắn bó với Mù Cả, thầy giáo Nguyễn Văn Bôn đã đưa xã vùng núi cao heo hút này trở thành điểm sáng giáo dục hàng đầu của toàn bộ vùng rẻo cao nước ta. Đối với người dân tộc Hà Nhì, thầy Bôn giống như một vị tiên. Họ đặt tên ông cho một ngọn núi ở vùng đất mà ông đã xả thân cống hiến.

Thầy giáo Nguyễn Văn Bôn kể tiếp: “Bản tôi ở, có ông già đi nương bắt được con hổ con bèn bế về nộp cho châu Mường Tè, châu đem xuống tặng cho Vườn thú Hà Nội. Hổ ấy sống 20 năm ở Hà Nội với nhiều triệu người đến tham quan. Tiêu bản của nó bây giờ vẫn được trưng bày trang trọng ở vườn thú. Ông ấy tên là Lỳ Hừ Sá.

Sau quá trình tìm hiểu kỹ, tôi quyết định họp cán bộ và bà con lại để bàn về chủ trương mở trường dạy chữ. Tôi họp các trưởng bản lại và thống kê: Số trẻ em trong toàn xã ở độ tuổi từ 7 đến 12 có khoảng 50 em. Mỗi em đi học phải mang theo gạo và quần áo. Tôi xắn tay đẵn gỗ dựng một ngôi trường hẳn hoi, bằng gỗ, nứa, có bàn ghế đủ cho 40 em ngồi học.

Trong khi xã Mù Cả chưa có trụ sở Ủy ban, chưa có bất cứ công trình “công cộng” nào thì trường của tôi đã mọc lên. Tôi rất nhớ ngày hôm đó, ngày 10/9/1959, tôi hồi hộp chờ đợi năm học đầu tiên của Mù Cả được bắt đầu. Mùi gỗ mới đẵn, mùi tre tươi thơm ngọt mà hăng hắc tỏa ra từ bàn ghế, kèo cột, mái gianh ngôi trường mới. Đúng giờ tập trung, 40 em học sinh từ các bản có mặt đông đủ. Quần áo các em thật sặc sỡ, đôi mắt trẻ em vùng núi cao bao giờ cũng tròn xoe ngơ ngác như vậy. Chúng rụt rè nhìn tôi. Tôi phân chia các em về từng gia đình ở “ngoại trú”.

Xong việc, tôi ngồi khóc, khóc thật sự. Vậy là sau bao ngày đêm lăn lộn vất vả, rất nhiều đêm thức trắng “tay không bắt giặc”, thậm chí đối mặt với quá nhiều hiểm nguy, bây giờ tôi đã có một ngôi trường, có học trò để dạy. Tôi thấy phấn chấn vô cùng. Buổi đầu tôi dạy cho các em cách tự xưng tên mình, dạy các em học hát. Bài hát đầu tiên, cũng rất thiết thực, nó là một bài học thể dục thì đúng hơn: “Ngồi mãi mỏi lưng/ Viết mãi mỏi tay/ Thể dục thế này/ Là hết mệt mỏi”.

Giờ lên lớp, chỉ có một hộp phấn, một quyển sách vỡ lòng, tôi viết lên bảng, tiếng trẻ đọc vang khắp bản làng, người lớn khắp nơi cũng tò mò kéo đến xem, các bà các chị cũng vui lắm. Bấy giờ chưa có bảng đen hay bút giấy gì, tôi cứ bảo các em tập viết vào cổ tay mình rồi giơ lên cho thầy xem. Cũng chẳng cần biết các em viết, đọc đúng sai thế nào, cứ thấy 40 cánh tay giơ lên, cứ nhìn nét mặt các em chăm chú, méo mồm uốn cổ tay theo thầy là thấy thích rồi.

Ngay sau buổi học ấy, tôi đưa ra sáng kiến dùng tàu lá chuối dọc bỏ sống giữa, gấp lại thành “sách”, thành “bảng” đem đến lớp để tập viết. Tôi lấy một cái bút mẫu cho các em nhìn, rồi để tự các em mỗi người đẽo cho mình một cái bút gỗ, có “ngòi” không quá nhọn – tránh làm rách lá chuối tươi khi viết. Các em dùng bút gỗ viết trên lá chuối, cứ thế mà học”.

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm