Võ sư mơ mộng với cây sáo nặng nhất địa cầu

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 6:07 29/11/2020 |

Sáo là nhạc cụ, nó có thể bằng tre, bằng trúc, bằng nhựa… nhưng cây sáo của võ sư Trịnh Như Quân thì lại làm bằng sắt lại còn to và nặng như cái xà beng, có sức sát thương hơn cả chuỳ, cả kiếm…

cây sáp bằng sắt 2
Võ sĩ Trịnh Như Quân biễu diễn sáo võ

Cơ duyên làm nên cây sáo sắt

Võ sư Trịnh Như Quân, hiện sống ở thành phố Bắc Giang, là người lãng mạn đến mơ màng. Lần nào tôi lên Bắc Giang, ông cũng dẫn đi bát phố rồi khe khẽ hát nhạc tiền chiến như tài tử. Cụ thân sinh ra ông Quân là một võ sư nổi tiếng xứ Bắc xưa kia, từng thi đấu, làm trọng tài quốc tế trên nhiều đấu trường. Lớn lên, thích câu “Gươm đàn nửa gánh, giang sơn một chèo”, Trịnh Như Quân hăm hở mơ đến ngày “văn võ toàn tài” như các kỳ nhân của Thuỷ Hử, Tam Quốc.

Ông học võ, vào làm ở Sở Thể dục thể thao Bắc Giang. Một lần đi sưu tầm các bài võ cổ trên quê hương của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, nơi núi rừng rợn ngợp chở che các nghĩa binh làm quân Pháp thất điên bát đảo trong suốt 30 năm ròng (1883-1913), ông Quân đã bị hút hồn bởi một môn văn – võ kết hợp kỳ ảo. Đó là sáo võ Yên Thế. Ông Quân không thể ngờ được lại có sự kết hợp của các thế tấn công, tàn sát địch thủ với thú tiêu dao thổi sáo ngắm trăng du sơn du thuỷ là một… ống sáo nhỏ bé.

Năm 1991, ông Quân vào bản Rừng Phe, gặp được cụ Triệu Quốc Uý truyền nhân cuối cùng của bài sáo võ “Bóng trăng Phồn Xương”, tương truyền của nghĩa quân Yên Thế, là môn võ sở trường và đam mê của chính hùm xám Yên Thế, Cụ Đề – Hoàng Hoa Thám. Lập tức ông Quân đắm đuối. Ông bỏ công bỏ việc, bỏ nhà bỏ cửa vào Rừng Phe “bái sư” luyện võ. Cụ Uý đã dày công “tu luyện” đưa “thiết địch thần phong” (bài võ dùng sáo sắt vừa thổi chơi vừa giết giặc) trở nên lung linh hơn. Nhờ có uy danh cụ mà trong cả vùng rừng núi mênh mông của Yên Thế, không có trộm cướp, giặc giã trong nhiều năm trời. Cũng như “sư phụ” của cụ Uý, cụ Châu Đoàn, một chiến binh võ công lừng lẫy của nghĩa quân Yên Thế; khi về bản ẩn mình tiếp tục khiển cây sáo sắt thanh mảnh, giai điệu dìu dặt mà đập tan nhiều toán giặc cỏ, nhiều tên kẻ cướp khi lẩn lút giữa rừng già. Cây sáo giúp đời, chứ đâu chỉ tiêu dao giết ngày tháng?

Học được 1 năm, sẵn năng khiếu và bản lĩnh võ thuật, Trịnh Như Quân đã học được các ngón võ bí truyền, vô cùng biến ảo của cây sáo và của thanh sắt lạnh ngắt kia. Đến năm 1993, ông Quân biểu diễn bài sáo võ “Bóng trăng Phồn Xương” trong một hội đền tại khu du lịch Suối Mỡ (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Không ngờ, từ con suối giữa rừng ấy, tiếng sáo và bài võ sáo đã vang dội, lay động toàn quốc. Sau đó, bí kíp của “Thiết địch thần phong” đã chính thức được ghi vào “Sổ tay võ thuật toàn quốc”, sánh vai với các “kinh đô” võ thuật lớn trong cả nước. Liên tiếp, các chiêu võ sáo đã đoạt nhiều giải đặc biệt trong các hội diễn thể thao, văn hoá các dân tộc, các khu vực trong toàn quốc.

cây sáo bằng sắt 1
Đôi khi, ông bỏ hai cây sáo sắt lớn vào bao, đeo như đeo súng trường lủng lẳng

“Cây xà beng” âm chuẩn quốc tế!

Thật ra thì việc điều khiển một cây sáo bằng sắt vừa chơi “nhạc” vừa đánh nhau khi xung trận không phải là cái gì quá lạ lẫm với những người để ý đến võ thuật. Ngay trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế, chuyện bà Ba Cẩn (vợ Đề Thám) dùng võ đũa cả đả thương bọn mắt xanh mũi lõ đã được lịch sử ghi lại. Tương tự, lịch sử vệ quốc của chúng ta cũng kể, các nghĩa binh đánh giặc bằng đủ thứ vũ khí mà những bậc trượng phu tụ nghĩa ngẫu hứng nghĩ ra và tài hoa điều khiển được.

Họ dùng quạt sắt (thiết phiến), quân cờ sắt, quân cờ sừng, đũa cả , roi đi ngựa, trâm cài đầu, cuối cùng, độc đáo hơn cả là “thiết địch” (sáo sắt). Cây sáo tưởng là sắt thì là sắt, tưởng là tre trúc thì cũng không có gì khả nghi. Sáo để ngồi lưng trâu tiêu dao, đứng trên đỉnh núi trò chuyện với đất trời. Nó vừa là tín hiệu truyền tin, vừa là thứ nguỵ trang tuyệt vời đánh lạc hướng kẻ địch. Lúc nó là thanh kiếm, cây đoản côn bằng sắt dữ dằn, tả xung hữu đột giữa chốn ba quân. Lúc trăng thanh gió mát, đánh tan quân giặc ca khúc khải hoàn, thả hồn mình với tri kỷ, trà dư tửu hậu, nó là thứ giãi bày tâm sự của người chiến sỹ chốn sa trường.

Với 53 chiêu thức võ công và 13 “bí kíp” cơ bản của nghệ thuật sử dụng kiếm (thập tam kiếm pháp) được biến hoá để tạo sức công phá cho sáo sắt, bài võ “Bóng trăng Phồn Xương” đã thật sự là một cơn lốc chết chóc với kẻ thù. Kẻ thù nào mà mơ mộng bị tiếng sao dụ dỗ nỉ non nữa thì càng… chết.

Khi biểu diễn, hứng lên, ông Quân và các đệ tử bổ một nhát sáo sắt chí tử vào chồng ngói cao ngất, tất cả đều tan tành. Cây sáo biến ảo trong tiếng nhạc du dương mà nó và người biểu diễn tạo ra, rồi đột ngột quay ngoắt, tiếng sáo lảnh lót kết thúc bằng một cú chém bổ chí tử. Có lẽ, cả một hòn đá to bằng quả dưa hấu, bằng cái thủ cấp kẻ thù để trước sân biểu diễn, võ sư Quân cũng dùng sáo đập cho tan tành được. Nghe tiếng sáo phát ra từ… khúc sắt, ai tinh ý có thể hiểu được tâm tình và cả nội công, bản lĩnh của người chơi.

Đến một ngày, sau nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu võ thuật cổ, phát huy giá trị của “thiết địch thần phong”, võ sư Quân quyết định đẩy nghệ thuật sáo võ của nghĩa quân Cụ Đề lên một tầng bậc mới. Ông đã tâm huyết nhiều tháng ròng để rèn rũa, chỉnh âm, luyện biểu diễn thành công những bài sáo võ tâm huyết nhất của mình. Thứ sắt đặc biệt, một lò rèn đặc biệt với những anh thợ rèn được thửa từ những cái nôi luyện kiếm xưa kia.

Chữ Nho viết trên sáo, phải đích thân cầu thị mang lễ vật đến xin nhà nghiên cứu bác cổ thông kim Trần Văn Lạng, khi ấy là Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bắc Giang. Cái việc khắc chữ thì phải về tận Thành phố Bắc Ninh mời anh chàng tên là Vệ, người học điêu khắc ở Huế ra, là cán bộ Bảo tàng tỉnh, một người tài hoa từng đục khắc bia ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội lên “thi công”.

cây sáo bằng sắt 3
Cận cảnh cây sáo bằng sắt

Bản thân võ sư Quân thì bỏ mặc ngôi nhà đang thi công cho vợ và… võ sư bố lo toan, suốt ngày ông cò cưa dùi khoan lỗ cho sáo sắt. Cây sáo nặng và to, thép tốt hơn thép để người Mông khoan làm súng tự chế rất nhiều. Và, nếu như tài khoan nòng súng thủ công của người Mông đã đi vào huyền thoại thì công việc làm sáo sắt của võ sư Quân phải kỳ công gấp… 10 lần.

Việc thẩm âm cho cây sáo lớn, ông Quân đã nhờ nhiều chuyên gia, nhạc sỹ có uy tín ở Bắc Giang, ở Hà Nội mang máy của Tây với “âm chuẩn quốc tế” về đo đạc đàng hoàng. Ông muốn nghiên cứu, phát triển nghệ thuật sáo võ. Ông không phải là một võ sư múa cây sáo sắt như Tôn Ngộ Không múa thiết bổng.

Ông muốn đẩy nghệ thuật thổi, biểu diễn sáo sắt lên tầm. Phải rèn luyện hằng ngày hằng đêm. Tiếng sáo lúc như gió, như mây, lúc như bão táp mưa sa, làm “quân địch” bạt vía kinh hồn. Chỉ nghe tiếng sáo sắt từ cây “gậy Như Ý” vang vọng, “đối phương” đủ hiểu hắn đang gặp một bản lĩnh võ thuật thâm hậu và một tâm hồn, trí tuệ khả kính như thế nào. Đó là khát vọng để đời của võ sư Quân.

Không biết giấc mơ chấn hưng và thăng hoa cho “Thiết địch thần phong”, nghiên cứu ca từ, âm nhạc, viết sách về võ thuật, biểu diễn tiếng sáo và bài võ từ cây sáo sắt to và nặng như xà beng của võ sư Quân sẽ đi về đâu? Chỉ biết rằng, trong căn phòng riêng luộm thuộm của mình, ông Quân đang bò ra nghiên cứu từng ca khúc, nắn sửa từng thế võ và sáng sáng chiều chiều tiếng sáo sắt lại réo rắt vang lên với tất cả nhiệt huyết của mình.

Đôi khi, ông bỏ hai cây sáo bằng sắt lớn vào bao, đeo như đeo súng trường lủng lẳng (cái bao da được thửa rất kỳ công) đi biểu diễn ở núi đồi, ruộng đồng nào đó. Nói dại, nhỡ cây sáo mà rơi dọc trúng bàn chân ai, thì có lẽ các ngón sẽ nát dập.

Lúc tiễn khách xa, võ sư Quân lại trịnh trọng tự nâng cây gậy Như Ý của mình lên và réo rắt thổi: “Ai về bên bến sông Tương”. Ngoài kia, ngay cổng nhà ông, người xe nhộn nhạo. Mặc kệ, cuộc sống của ông Quân với cây sáo nặng nhất địa cầu ấy, với những réo rắt nao lòng của “cây xà beng biết hát” kia, cứ thế chìm lút đến ngộp thở với bóng trăng xa xăm của đất Phồn Xương, Yên Thế, sông Tương chậm nguồn trên xứ Bắc…

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm