fbpx

Chuyện cảm động và khó tin về những người “cãi lại mệnh trời” (kỳ 4)

Đăng lúc: 4:56 30/01/2019 -

Kỳ 4: Cổ tích về những “em bé ống nghiệm” đầu tiên ở Việt Nam

Ba hoàn cảnh, một câu chuyện hiếm muộn

Tại TP. Hồ Chí Minh, vợ chồng ông Phạm Xuân Tài (54 tuổi) và bà Phạm Thị Thanh Dung (58 tuổi) kết hôn năm 1986. Mười năm không có con, vợ chồng ông chạy chữa khắp nơi, từ bệnh viện công đến bệnh viện tư, từ Đông y tới Tây y, thậm chí đến khắp các cửa đền, chùa để cầu tự.

Cùng thành phố, hơn ba mươi năm trước, vợ chồng ông Mai Văn Phơn và bà Tuyết Nga (ở quận Bình Thạnh) từng hạnh phúc, hồi hộp chờ ngày con cất tiếng khóc chào đời. Nhưng một lần bà Nga trượt ngã, cháu bé không còn. Bà Nga cũng không thấy đậu thai thêm một lần nào nữa. Vợ chồng ông bà cũng đi khắp nơi chạy chữa, khấn vái mà không có hy vọng.

Dưới miệt vườn Tiền Giang, cũng năm 1986, bà Trần Thị Bạch Tuyết phải lòng người hàng xóm Lưu Tấn Trực có tài lẻ chơi đàn. Họ kết hôn, chú rể hơn cô dâu 15 tuổi. Ban đầu hai họ đều thấy Tuyết – Trực đẹp đôi, đến khi mãi không thấy bà Tuyết sinh nở, họ lại thấy “anh Trực già hơn cô Tuyết nhiều quá nên chắc lệch pha”. Vợ chồng dắt nhau đi khám. Bất ngờ là cả hai đều khoẻ mạnh, không ai trục trặc đường sinh sản. Không hiểu vấn đề của hai vợ chồng là gì, nên nghe đâu có thầy giỏi, thuốc hay là vợ chồng bà Tuyết tìm đến. Nhưng mãi vẫn không có kết quả, hai vợ chồng càng thêm chán nản, chẳng buồn chạy chữa thêm. 8-9 năm sau ngày cưới, đàn bà ba mươi tuổi vẫn không có lấy một mụn con, chồng thì vùi đầu vào công việc. Một ngày, bà Tuyết quyết liệt “doạ”: “Một là tiếp tục đi khám, lên hẳn Sài Gòn xem thế nào. Hai là chia tay, anh đi lấy vợ, tui đi lấy chồng”.

Cơ duyên, ba đôi vợ chồng tìm đến Bệnh viện Từ Dũ năm 1997, đúng thời điểm kỹ thuật IVF được bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng vừa đưa về Việt Nam. Bấy giờ có 100 cặp vợ chồng được tiến hành làm IVF, hình thành phôi được 70, 70 “bà mẹ” được chuyển phôi nhưng chỉ có bà Dung, bà Nga, bà Tuyết là đậu. Ông Tài vẫn nhớ ngày đó chi phí thuốc để làm IVF rất đắt và cũng rất hiếm. Một lần làm IVF tốn gần bằng tất cả những năm chạy chữa trước kia cộng lại. Đến khi bác sĩ Phượng thông báo ba ca đậu thai, 6 ông bố bà mẹ ôm nhau khóc nấc. 97 cặp vợ chồng còn lại dù không có kết quả nhưng cũng vui lây. Họ kéo đến động viên, chúc mừng. Hạnh phúc nhất là bà Nga. Bởi khi đó theo các bác sĩ, tỉ lệ thành công của thế giới với phụ nữ dưới 35 tuổi chỉ là 5/1.000. Bà Nga khi đó đã 42 tuổi. Trước đó nghe bác sĩ nói tỉ lệ thành công rất thấp, bà đã quyết tâm: “Chỉ 1/1.000 tui cũng làm. Đây là hy vọng cuối cùng của vợ chồng tui”. Ông Phơn nhớ như in giây phút nhận tin bà Nga mang thai: “Tui nghe đôi chân mình chấp chới như muốn chạy, cảm giác sung sướng đến tột cùng”.

Vợ chồng ông Tài bà Dung và con gái Lan Thy

Trong số ba ca đó, bà Nga sức khoẻ kém nhất, phải nằm viện suốt ba tháng đầu tiên. Đến sát ngày sinh, bà vẫn ói liên tục. Bà thường xuyên phải truyền dịch và quen với nếp sinh hoạt ở viện hơn ở nhà.

Các “em bé ống nghiệm” vào đại học và đi du học

Sau chín tháng mười ngày, 30/4/1998, ba “em bé ống nghiệm” chào đời. Ông Tài đã thức trắng đêm 29, vắt sang ngày 30 vì quá nôn nao. Khi đứng sau tấm kính phòng mổ, nghe tiếng trẻ sơ sinh ngoao ngoao khóc như mèo con, thấy vợ xoè hai bàn tay mỉm cười ý nói mẹ tròn con vuông, ông Tài rơi nước mắt. Ông nhớ: “Nghe các bác sĩ thông báo bé gái, nặng 3,1kg, tui cảm giác có vật gì đè nặng lồng ngực không thở nổi. Sau này tui mới hiểu vì khi đó hạnh phúc là quá lớn”. Lúc đầu vợ chồng ông muốn đặt tên cho con là Phạm Tường Lan – tên ghép của hai bác sĩ Hồ Mạnh Tường và Vương Thị Ngọc Lan, là hai bác sĩ trực tiếp làm IVF cho vợ chồng ông. Nhưng Lan là tên bà ngoại của con gái nên hai vợ chồng đặt tên con là Phạm Tường Lan Thy.

Ban đầu theo dự kiến, bà Nga sẽ được mổ vào 9 giờ 45 phút ngày 30/4, sau khi mổ cho bà Dung. Nhưng “22 giờ ngày 29/4, siêu âm cho chị Nga, thấy nhau đã quấn cổ, chúng tôi quyết định phẫu thuật ngay, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng đứa bé. Đúng 2 giờ 45 phút ngày 30/4/1998, “em bé ống nghiệm” đầu tiên chào đời theo đúng thứ tự thời gian. Cậu nhóc nặng 2,5kg cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui vô bờ của gia đình cũng như ê kíp bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ”, bác sĩ Phạm Thị Ngọc Phượng vẫn nhớ như in. Cậu bé được ông nội đặt cho cái tên Mai Quốc Bảo với ý nghĩa cậu không chỉ là bảo vật của gia đình mà còn là sự kiện mang tầm lịch sử của ngành y tế nước nhà.

Hai năm đầu đời của bé gái Tuyết Trân là hơn 700 ngày hạnh phúc nhất của vợ chồng ông Lưu Tấn Trực. Bởi ngày con gái tròn 2 tuổi cũng là ngày ông vĩnh viễn phải rời xa con. Một lần dốc gia sản để tìm con, một lần khánh kiệt vì bệnh ung thư gan của chồng. 32 tuổi mới sinh được con, 34 tuổi đã thành goá phụ, bà Tuyết làm đủ mọi việc từ may đồ chợ đến tiếp thị sản phẩm để nuôi sống hai mẹ con. Ngày nhỏ, Trân thường xuyên sốt cao và co giật. Sau khi chồng mất, mỗi lúc con đau ốm, bà Tuyết lại khóc, một phần vì không còn chồng bên cạnh để nương tựa, động viên, một phần vì lo sợ khi con là động lực sống duy nhất lúc bấy giờ. Thật may, đến 3 tuổi thì Trân không còn sốt cao hay co giật nữa. Cuộc sống của hai mẹ con cũng nhờ thế mà đỡ chật vật hơn.

Tuyết Trân hiện tại

Bà Tuyết kể: “Năm 2006, tui xin được công việc ổn định. Tối tui xin làm luôn bảo vệ cho cơ quan. Vì muốn kèm cặp bé Trân nên sau giờ làm là tui về nhà ngoại đón bé mang theo sách vở đến cơ quan tui học bài và ngủ lại. Nhiều lần con hỏi sao mẹ con mình không có nhà để ở, mà tui không biết phải trả lời con sao. Đến năm 2011, tui vay mượn khắp nơi, họ hàng giúp đỡ mới cất được căn nhà gần 50m2 cho Trân đỡ tủi”.

Với Lan Thy, trong hai năm đầu đời, tháng nào vợ chồng ông Tài – bà Dung cũng phải đưa con vào viện dể theo dõi sức khoẻ. Ngày đó nhiều người thắc mắc con gái ông bà là “em bé ống nghiệm” thì liệu có bình thường giống như những đứa trẻ được sinh ra không. “Tui cũng nói và thấy là cháu phát triển bình thường, cũng khóc mếu, biếng ăn, ho, ốm sốt… như mọi đứa trẻ khác. Chỉ có điều càng lớn cháu càng năng động và mạnh mẽ vì không muốn mọi người xem thường mình”. Ông Tài kể khi con lớn, ông bà đã kể cho con nghe việc con là “em bé ống nghiệm”, lúc ấy Lan Thy vẫn không thể nào tin là trên đời lại có phương pháp thần kỳ đến đế và đặc biệt chính mình lại là minh chứng cho điều thần kỳ đó.

Song ông Tài bảo sự ra đời đặc biệt của Lan Thy cũng khiến cháu gặp những tình huống khó xử trong cuộc sống. Càng lớn, Lan Thy càng trở thành chủ đề bàn tán của bạn bè và những người xung quanh. “Có lần Thy đã xô xát với bạn học vì bạn nói Thy không phải là con của vợ chồng tôi. Khi Thy học lớp 11, khi nghe một số người nói cháu là “đồ nhân tạo” nên không thể tốt bằng đồ tự nhiên, cháu đã khóc rất nhiều. Sau này vợ chồng tôi giải thích, khi hiểu hết mọi chuyện thì cháu thấy tự hào vì mình là “em bé ống nghiệm”, bà Dung cho hay.

Hai mươi năm kể từ cái ngày lịch sử với các cặp vợ chồng hiếm muộn ấy, cả Lan Thy, Quốc Bảo, Tuyết Trân đều là những cô gái, chàng trai tuổi đôi mươi và đều là sinh viên đại học. Quốc Bảo và Tuyết Trân học ở TP. Hồ Chí Minh, còn Lan Thy đã sang Nhật sau khi nhận được học bổng toàn phần từ ĐH Quốc tế Tokyo.

Ước tính trong hai mươi năm qua, nước ta đã có khoảng 40.000 bé ra đời nhờ phương pháp này tại nhiều cơ sở Y tế trên cả nước như: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Bưu Điện, Bệnh viện Bạch Mai, đặc biệt là Bệnh viện Nam học và hiếm muộn Việt – Bỉ (23 Nguyễn Văn Trỗi, Hà Nội)… Trong tổng số các trường hợp được hỗ trợ, có 30-35% số ca thành công, mang lại hạnh phúc cho hàng chục nghìn gia đình hiếm muộn.

Trần Quân

Bình luận