fbpx

Chuyện cảm động và khó tin về những người “cãi lại mệnh trời” (kỳ 5)

Đăng lúc: 5:01 30/01/2019 -

Kỳ 5: Người “khai sinh” cho hàng vạn đứa trẻ đặc biệt

Đem IVF về Việt Nam trong “giai đoạn nhạy cảm”

GS-BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng sinh năm 1944 trong một gia đình rất nghèo ở Đồng Nai. Cha bà làm phu cao su trong đồn điền của người Pháp. 8 tuổi, bà đã quyết tâm trở thành bác sĩ hành nghề cứu người vì khi đó bà được một bác sĩ người Pháp cứu thoát khỏi cơn thập tử nhất sinh. Thời đó trường y đào tạo bằng tiếng Pháp nên bà tự học tiếng rồi đứng thứ 6 trong kỳ thi vào Trường ĐH Y khoa Sài Gòn (nay là ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh). Bà chọn ngành Sản khoa, tốt nghiệp năm 1970. Bà tiếp tục làm thêm đủ mọi công việc như thời sinh viên để lấy tiền theo học tiếp hệ sau đại học. Sau 4 năm, bà đã lấy chứng chỉ tương đương Tiến sĩ Y khoa Hoa Kỳ và tốt nghiệp sau đại học chuyên ngành Phụ khoa.

Là bác sĩ sản khoa và cũng là người mẹ nên bà rất thương khi tiếp xúc với phụ nữ hiếm muộn con cái. Năm 1984, đang là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, bà đi Thái Lan công tác và được thăm một trung tâm IVF sắp được mở cửa. Ngay lúc ấy bà đã mong muốn mang kỹ thuật IVF về nước để mang lại hy vọng cho những cặp vợ chồng hiếm muộn và trả lại thiên chức làm mẹ cho nhiều người phụ nữ. Thế nhưng giai đoạn đó, nước ta đang phải đối mặt với tình trạng dân số gia tăng không thể kiểm soát, Nhà nước đang đẩy mạnh tuyên truyền kế hoạch hoá, kêu gọi giảm sinh đẻ. Thêm nữa, chi phí để thành lập một trung tâm hỗ trợ sinh sản bằng IVF là con số khổng lồ đối với ngân sách quốc gia khi đó: 3 triệu USD. Vì cả hai điều đó mà mong muốn của bà là điều không thể.

Tuy nhiên bà vẫn âm thầm xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho kỹ thuật IVF ở Việt Nam. Khởi đầu, bà cho xây dựng nền móng vững chắc tại Bệnh viện Từ Dũ với các chuyên khoa cơ bản nhằm hỗ trợ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách cho ra đời các chuyên khoa về nội soi, sơ sinh, mua máy siêu âm, máy xét nghiệm và xây dựng ngân hàng tinh trùng… Hồi đó Bệnh viện Từ Dũ vẫn nghèo trong cái nghèo chung, các thiết bị phải đi mua nợ, trả góp từng loại máy để cải tiến quy trình xét nghiệm đáp ứng yêu cầu điều trị vô sinh.

Hình ảnh đi vào lịch sử y khoa nước nhà – một trong ba em bé ống nghiệm đầu tiên chào đời năm 1998

Dùng tiền học bổng tiến sĩ để thực hiện “kế hoạch đặc biệt”

Mười năm sau, BS Ngọc Phượng được cử sang Pháp bảo vệ luận án tiến sĩ. Trên đất Pháp, bà được cấp học bổng 16.000 franc mỗi tháng để làm luận án giáo sư ở Đại học Nice Sophia Antipolis. Thế nhưng bà đã thay đổi mọi chế độ dành cho người làm luận án giáo sư bằng nếp sinh hoạt của một sinh viên đại học để tiết kiệm tiền. Bà dọn đến ký túc xá sống cùng các sinh viên người Việt, tự góp tiền nấu cơm chung. Đa phần số tiền học bổng, bà dồn cả vào việc mua máy móc thiết bị y tế để gửi dần về… Bệnh viện Từ Dũ. Từ máy siêu âm đầu dò, máy nội soi buồng trứng, đến dụng cụ lưu trữ tinh trùng… Cứ thế, số máy móc, thiết bị của Bệnh viện Từ Dũ ngày một nhiều lên nhờ học bổng giáo sư của bà bác sĩ đầy trách nhiệm và giàu lòng nhân ái.

Cơ bản giải quyết được phần cứng là máy móc rồi, GS Ngọc Phượng bắt đầu chuẩn bị về “phần mềm”, bà đã cử các bác sĩ của Bệnh viện Từ Dũ sang Pháp, Singapore, Australia học kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Các bác sĩ được cử đi phải đáp ứng được “tiêu chuẩn” rất kỹ càng của GS Phượng: Có tài, có ngoại ngữ tốt và có chí cầu tiến. 13 năm như người năng nhặt chặt bị, đến năm 1997, mọi thứ đã chín muồi song GS-BS Phượng và Bệnh viện Từ Dũ phải đối mặt với khó khăn lớn không kém: giấy phép.

Khi đó cả UBND thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Y tế đều ủng hộ việc trung tâm IVF của Từ Dũ ra đời, nhưng cũng như việc “em bé ống nghiệm” đầu tiên trên thế giới (năm 1978) vấp phải nhiều luồng phản ứng trái chiều, nhất là khi đây là lần đầu tiên Việt Nam áp dụng kỹ thuật IVF. Họ bảo, việc “sản xuất con người” không đơn giản như sản xuất ra hàng hóa, cho nên quá trình xin giấp phép gặp rất nhiều khó khăn. Sau nhiều ngày chạy khắp nơi với bao thủ tục, cuối cùng tháng 8/1997, Bệnh viện Từ Dũ và bác sĩ Ngọc Phượng mới được cấp phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm, đánh dấu kỹ thuật IVF lần đầu tiên có mặt ở Việt Nam. Từ năm 1998, khi ba “em bé ống nghiệm” đầu tiên là Quốc Bảo, Lan Thy, Tuyết Trân ra đời thì bản đồ IVF thế giới đã có thêm Việt Nam!

Ở tuổi 74, bà vẫn đang từng ngày trả lại thiên chức cho những cặp vợ chồng hiếm muộn

GS-BS Ngọc Phượng nhớ lại những ngày đầu tiên thực hiện kỹ thuật IVF: “Ngày 19/8/1997, những phôi đầu tiên được chuyển, sau khi chuyển phôi 2 tuần, chúng tôi bắt đầu gọi điện cho từng sản phụ để hỏi tình hình. Mỗi một lần, họ nói không đậu thai là tôi lại căng thẳng và lo lắng. Bấy giờ tôi như đang dốc tất cả danh dự, sự nghiệp, tài sản… vào “canh bạc” IVF, bởi nếu thất bại trong lần đầu tiên thì chúng tôi sẽ không còn cơ hội triển khai tiếp tục kỹ thuật này. Vì thế mà chỉ trong một tuần, mái tóc tôi đã chuyển từ đen sang bạc.

Công sức, tâm huyết suốt mười ba năm cuối cùng đã cho quả ngọt. Năm đó có 12 người đậu thai – là kết quả, là con số ngoài mong đợi của GS-BS Ngọc Phượng và cả Bệnh viện Từ Dũ. “Quãng đường” thực hiện kỹ thuật IVF hồi hộp, kịch tính bao nhiêu thì ngày ba “em bé ống nghiệm” đầu tiên chào đời đầy căng thẳng và đong đầy cảm xúc bấy nhiêu. Tròn hai mươi năm đã trôi qua, nhưng GS-BS Ngọc Phượng chưa bao giờ quên được sự kiện diệu kỳ ngày hôm đó: Theo “dự tính”, ngày 30/4/1998 ba sản phụ sẽ sinh, nhưng đêm 29, bà Tuyết Nga (mẹ của “em bé ống nghiệm” Mai Quốc Bảo) liên tục có dấu hiệu suy tim thai. Đó cũng là đêm trắng đầy lo lắng của BS Phượng. Sau khi bà Tuyết Nga sinh mổ thành công lúc 2h45, rồi sáng và trưa ngày 30/4, hai sản phụ Thanh Dung, Bạch Tuyết chuyển dạ, hai “em bé ống nghiệm” Tuyết Trân, Lan Thy đã chào đời bình an.

Ngày 30/4/1998 đã đi vào lịch sử y khoa nước nhà, “đó là một ngày dài tôi trải qua nhiều cảm xúc khác nhau từ căng thẳng, lo lắng, hồi hộp đến tột độ, rồi như vỡ òa khi cả 3 em bé chào đời an toàn, 3 sản phụ hoàn toàn khỏe mạnh. Đến bây giờ, dù có hàng chục ngàn đứa trẻ Việt Nam được sinh ra từ kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm nhưng cảm xúc về ngày 30/4 năm đó vẫn không thể nào diễn tả được bằng lời”, GS-BS Ngọc Phượng xúc động chia sẻ.

Bây giờ, ở tuổi 74, bà vẫn làm việc 8 tiếng mỗi ngày để tiếp tục mang lại hy vọng thiên chức làm cha mẹ cho những cặp vợ chồng hiếm muộn. Hai mươi năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong kỹ thuật IVF. Song người Thầy thuốc Nhân dân ấy vẫn luôn trăn trở, bởi dù chi phí cho IVF ở nước ta đã được coi là thấp nhất so với mặt bằng thế giới thì vẫn là quá cao so với mức sống của người dân, đặc biệt là với những cặp vợ chồng khó khăn. Vì lẽ đó, bà đã cùng các bác sĩ tâm huyết khởi xướng nên chương trình “Ươm mầm hạnh phúc”. Mỗi năm, “Ươm mầm hạnh phúc” thực hiện thụ tinh ống nghiệm miễn phí cho 30 cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh và có hoàn cảnh khó khăn. Bốn năm qua, chương trình đầy nhân ái ấy đã “trả lại” thiên chức cho khoảng 50 ông bố bà mẹ hiếm muộn khó nghèo.

GS-BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng còn là đại biểu Quốc hội 3 khóa: VII, VIII, IX. Bà cũng là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VIII, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội khóa IX, ủy viên đoàn Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam, T.Ư Hội Phụ nữ Việt Nam. Hiện bà đang là Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Với những đóng góp to lớn đó, năm 2000, Nhà nước ta đã phong tặng GS-BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Trần Quân

 

Bình luận