“Dạt nhà” với người vô gia cư ở Sài Gòn (kỳ 4)

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 1:16 17/06/2020 |

Đại gia đình bà Trần Thị Dung khiến người ta phải thảng thốt. Không giống những người bỏ nhà gia nhập gầm cầu, công viên, xó chợ, đại gia đình bà vô gia cư theo đúng nghĩa đen. Con mình chỉ ba đứa, nhưng bà phải đèo bòng đến mười hai người con (chưa kể cháu) của em gái ruột.

“Dạt nhà” với những người vô gia cư ở Sài Gòn (kỳ 4)
Đại gia đình của bà Dung từng phải sống lang bạt như những người vô gia cư

Kỳ 4: Đại gia đình “vô gia cư” giữa Sài Gòn

Gia đình quá đông, không tiền thuê trọ thành “vô gia cư”

Cha mẹ bà Trần Thị Dung (SN 1948), quê gốc Đồng Tháp, lên Sài Gòn làm ăn rồi sinh tám người con, bà Dung là con thứ ba. Bấy giờ cha mẹ bà làm ăn khấm khá, nhưng sinh tám đứa con mà có tới sáu đứa ốm đau, bệnh tật, chạy chữa liên miên. Nhà khánh kiệt mà chẳng thể nào giữ được sự sống cho sáu anh, chị, em của bà. Con nhà buôn bán nên bà Dung đảm đang tháo vát từ bé. Ba mươi tuổi bà lấy chồng. Vợ buôn bán, chồng chạy xe ôm. Rồi cả cha và mẹ bà cùng mắc bệnh nan y, ngôi nhà cóp nhóp cả đời ở quận 8 cũng phải bán đi để chữa bệnh.

Hai vợ chồng bà dắt ba đứa con đi thuê nhà trọ. Khốn khó này chưa qua, gánh nặng khác đã ập tới. Năm 2009, em út Trần Thị Kiều của bà qua đời vì suy tim. Tuổi chưa đầy bốn mươi, bà Kiều đã có hai đời chồng và mười hai đứa con. Khi bà Kiều mất, đứa nhỏ nhất mới bảy tháng tuổi, một người chồng trước đó đã qua đời, một người chồng thì bỏ đi biệt tích. Thương đàn cháu lít nhít, không cha, không mẹ, bà Dung đưa cả mười hai đứa con và sáu đứa cháu của bà Kiều từ Tiền Giang về nuôi.

Nhà thuê trọ, hai vợ chồng lao động tay chân mà nuôi hơn hai chục đứa trẻ, có lẽ không cần nói cũng hiểu vợ chồng bà khốn khổ, cơ cực đến cỡ nào. Nhưng khổ nhất là ngày đón các cháu về nuôi, chủ nhà trọ thấy đông, hãi quá bèn đòi phòng, không cho mướn nữa. Cả đại gia đình bà lại dắt díu nhau đi thuê nơi khác. Sau một thời gian rất ngắn, chồng bà không chịu được cảnh làm lụng quần quật mà đói khổ vẫn hoàn đói khổ. Ông nói hoặc là bà chọn chồng, hoặc chọn các cháu. Bà không thể lựa chọn, chỉ biết ngậm ngùi nhìn chồng ra đi.

Chồng bỏ đi, đồng nghĩa với cái gánh quá nặng ấy dồn lên vai bà. Vừa buôn thúng bán bưng, vừa quần quật làm thuê mướn mà chỉ đủ ăn, chẳng thể nào xoay đâu ra tiền nhà trọ. Thế là cả nhà thành “người vô gia cư“. Bác cháu, bà cháu lại dắt díu nhau lang bạt, cứ chỗ nào có nhà hoang thì ở, không có nhà hoang thì dựng lều gần bãi rác để nhặt nhạnh những gì có thể bán lấy tiền. Cứ lay lắt như người vô gia cư thế, người ta đuổi không cho ở thì lại đi. Nơi đại gia đình bà ở được lâu nhất là bãi đất hoang của xã Bình Hòa (huyện Bình Chánh, TP. HCM). May mắn, ở đó có gian nhà dựng tạm người ta bỏ không.

“Dạt nhà” với những người vô gia cư ở Sài Gòn (kỳ 4) 1
Ngôi nhà không được dọn dẹp, mốc bẩn

Năm năm sống ở đó, chỉ nước uống là đi mua, còn giặt giũ, tắm rửa thì ra dòng kênh ô nhiễm sát “nhà”. Đang “an cư” ở đó thì năm 2017, chính quyền xã Bình Hòa giải tỏa. Đại gia đình bà được hỗ trợ tiền thuê nhà trong… một tháng. Cũng có nhiều tấm lòng hảo tâm đùm bọc, nhưng mười mấy miệng ăn, chẳng thể nào kham được mỗi tháng mấy triệu tiền nhà. Cuối cùng, mẹ con, bà cháu phải “dạt” xuống huyện Cần Giuộc của tỉnh Long An để thuê nhà. Ở rìa ấp này, gia đình bà chỉ mất 1 triệu đồng tiền thuê nhà mỗi tháng.

Cha mẹ như cỏ dại, trẻ con như gà vịt

Con gái lớn của bà Dung có ba con, một mình chị nuôi cả ba đứa. Chị và hai người em trai đi làm thuê mướn để nuôi con mình và nuôi các cháu. Bà Dung và đàn con cháu, tất cả đều… mù chữ. Nghe bà Dung nói, giữa nắng nóng mà nghe tê tái lòng: “Em tôi cũng không biết chữ đâu. Hồi nó chết cũng không thấy có giấy tờ nào để lại. Hộ khẩu của tôi thì ở quận 8, hộ khẩu em tôi ở Tiền Giang. Còn hộ khẩu các con của nó, các cháu của nó ở đâu tôi cũng… không rành”.

Cả con gái bà Dung và các con gái của bà Kiều, lớn thì cũng “lấy chồng”, nhưng chỉ là dắt nhau về ở chung chứ không đứa nào cưới hỏi gì. Cũng vì không cưới hỏi, nồi nào úp vung ấy mà rất nhiều đứa trẻ trong đại gia đình này không có cha. Và cũng không ít đứa trẻ cùng mẹ mà không cùng bố. Thậm chí nhiều đứa, từ khi sinh ra tới giờ chưa một lần được biết mặt cha mình.

Buổi sáng, con gái lớn của bà Dung đi chợ mua trứng gà, vịt vỡ hoặc mớ cá ươn và mấy cân gạo. Cơm nấu lên, đứa nào đói thì mang tô đi bới cơm rồi ngồi một góc ăn. Thường thì bữa sáng và bữa trưa là một, rồi xế chiều ăn thêm bữa nữa. Từ nhỏ đến lớn, không đứa nào có thói quen ăn tối. Đàn cháu của bà Dung lớn dần, cũng có sức khỏe nhưng chẳng thể xin được việc. Vì yêu cầu tối thiểu là… biết chữ thôi, mà chúng có đáp ứng được đâu.

“Dạt nhà” với những người vô gia cư ở Sài Gòn (kỳ 4) 2
Ba trong số bốn đứa trẻ đang sống với anh Trần Văn Liêm

Mù chữ đến độ, thằng Bin (cháu ngoại bà Kiều) đã mười một tuổi mà chỉ có độc một cái tên… Bin. Bin không biết cha mình là ai, nhưng hình như điều đó với nó không đáng buồn bằng việc không biết tên thật của mình là gì. Không ai biết nó chỉ có cái tên Bin, hay ngoài Bin còn có tên nào khác? Bin có mẹ, nhưng mẹ của Bin, sau những năm nương nhờ bà Dung, đã bỏ lại thằng Bin cho bà nuôi để về Tiền Giang làm mướn.

Khi chúng tôi đến xóm trọ nghèo ở huyện Cần Giuộc để thăm lại đại gia đình bà Dung, cả đám trẻ nhao nhao, đứa xông vào lấy bim bim, bánh kẹo chúng tôi mang đến, có đứa đang tuổi mẫu giáo còn giật điện thoại chúng tôi cầm ở tay đòi xem. Tất cả đều nhốn nháo như bầy gà vịt, không có bất cứ phép tắc nào. Bọn trẻ lớn hơn, nhưng nhem nhuốc, bẩn thỉu, nhà cửa cũng bừa bộn hơn trước nhiều.

Kaghim Bình An (một trong những đứa cháu ngoại của bà Kiều, Kaghim là họ của ông chồng người Chăm) bảy tuổi mà gầy choắt như đứa trẻ mẫu giáo. Đỗ Thanh Hoài Trúc chín tuổi cũng gầy nhom, Trúc mặc quần trắng bóng loáng, áo bà ba màu hồng, nom như đồ biểu diễn trên sân khấu. Bà Sáu Mập là hàng xóm chạy sang hò hét: “Thằng An cầm chổi quét nhà, con Trúc xếp quần áo lại, sao để lộn xộn quá vậy trời, con Ngọc (chị gái của Trúc) vô bếp rửa bát, bà đã dặn nhiều lần, con lớn rồi, ăn xong con phải biết rửa bát chứ”.

Gánh nặng vẫn đè đến khi nhắm mắt

Bước vào nhà trọ, chúng tôi lặng đi, trên ban thờ là di ảnh bà Dung. So với hai năm trước chúng tôi gặp, gương mặt bà trong di ảnh gầy hơn nhiều. Bà Sáu bảo: “Từ năm ngoái, khi bà Dung mất vì ung thư tới giờ bọn trẻ càng thảm hơn”. Bà Dung mất, anh con út Trần Văn Liêm thay mẹ cưu mang đàn cháu. Cái nhà trọ này, giờ anh và một người bạn cùng thuê để san sẻ chút tiền. Bà Sáu bảo cả xóm trọ đều nghèo, nhưng không ai khốn khổ như mẹ con, bà cháu nhà bà Dung. Từ ngày bà mất, đàn cháu tách ra, Liêm nuôi bốn đứa, hai cháu ruột và hai cháu ngoại của bà Kiều. Còn dăm bảy đứa cháu trai nữa trọ cách đó mấy nhà, nhầng nhầng 12 đến 15, 16 tuổi. Tất cả đều mò cua bắt ốc nuôi nhau!

Nói đến bà Dung, bà Sáu sụt sùi: “Tôi chưa thấy ai khổ như bà Dung, cũng chưa thấy ai nhân đức như bà Dung. Đèo bòng cả đàn con và cháu ngoại của em. Khổ thế, mà chẳng đứa nào có tương lai, đứa đánh lộn, đứa thì bị bắt vì liên đới vận chuyển ma túy. Còn đám trẻ này, từ ngày tôi ở đây, thấy có đứa nào được nhìn nom đâu. Vài đứa mấy tháng mẹ mới xuống gặp một lần. Cũng có đứa có bố, nhưng mỗi lần tới đều vẫy con ra đường gặp chút xíu, dúi cho mấy chục ngàn rồi đi. Trước khi chết, bà Dung khóc, than thở với tôi, bà không biết tương lai cái gia đình này rồi sẽ như thế nào”.

Ông tài xế già chở chúng tôi bước ra từ gian bếp, mắt mũi đỏ hoe cắt ngang lời bà Sáu: “Nồi cơm tơ hơ nguội ngắt, chậu cá khô không đậy, xoong chảo cháy đen, khét lẹt… Nhìn gian bếp lanh tanh bành, nghĩ đến bọn trẻ mà tôi không cầm được nước mắt. Nghèo đói đã đành, nhưng cha mẹ bọn trẻ thất học, giờ bọn trẻ lại thất học, thì rồi cuộc đời sẽ lại như cha mẹ chúng hay sao?”.

Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm