fbpx

Đồi thông hai mộ và hai thiên tình sử bi thương

Đăng lúc: 1:53 22/11/2019 -

Lâu nay nhắc đến đồi thông 2 mộ người ta cứ nghĩ chỉ có ở Đà Lạt, thật ra có một đồi thông hai mộ khác ở tỉnh Hoà Bình, có từ thời Bảo Đại chưa lên làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam. Đồi thông này đã đi vào thi ca và nổi tiếng chẳng thua gì đồi thông 2 mộ nằm bên bờ hồ Than thở Đà Lạt sau này.

Đồi thông hai mộ và câu chuyện về hai thiên tình sử bi thương
Đồi thông hai mộ ở Đà Lạt

Đồi thông gió thổi vi vu

Câu chuyện tình éo le của hai nấm mồ hiu quạnh nằm trên đồi thông hai mộ ở thành phố Đà Lạt lâu nay khiến giới văn sĩ tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Qua lời lời kể dân gian và những gì còn khắc ghi trên bia mộ thì đôi trai gái Vũ Minh Tâm và Lê Thị Thảo tình cờ gặp nhau, mến nhau rồi thề non hẹn biển. Rồi chiến tranh loạn lạc, tin chàng tử trận khiến nàng đau xót khôn cùng. Trong lúc tuyệt vọng nàng tìm đến đồi thông, nơi hai người lưu dấu biết bao kỷ niệm hẹn hò để quyên sinh vào ngày 15/3/1956.

Thế nhưng “chàng trai khói lửa” không chết mà trở về nguyên vẹn hình hài bằng xương bằng thịt. Khi hay tin nàng chết vì hoang tin người yêu tử trận, chàng trai đã tìm đến mộ người yêu than khóc, rồi chàng cũng tự vẫn theo nàng. Trước khi chết chàng để lại bức thư tuyệt mệnh, mong ước được chôn cất bên cạnh mộ nàng để hai người được mãi mãi bên nhau. Từ đó đồi thông nằm bên hồ Than Thở có tên đồi thông hai mộ.

Mới đây, người viết được một người bạn chuyên sưu tầm sách cũ gửi tặng quyển sách “Đồi thông 2 mộ) của tác giả Tùng Giang Vũ Đình Trung do nhà xuất bản Yên Sơn xuất bản 1951. Quyển sách viết về chuyện tình thuỷ chung của đôi trai tài gái sắc dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình. Hoá ra lâu nay có một đồi thông 2 mộ khác mà ít người biết đến, nó lại có trước đồi thông 2 mộ ở Đà Lạt từ rất lâu. Mở đầu phần tiểu dẫn của truyện được viết bằng văn xuôi, nhưng đến phần chính yếu được tác giả kể với hơn một ngàn câu thơ song thất lục bát diễn tả một thiên bi sử của đôi trai gái Mường có tên Đinh Lăng và Quách Mỵ Dung.

Đồi thông hai mộ và câu chuyện về hai thiên tình sử bi thương 1
Bản sáng tác của nhạc sĩ Hồng Vân ca ngợi chuyện tình ở Đồi thông hai mộ của Đà lạt đã làm rung động biết bao thế hệ đi qua

Chuyện kể rằng, cuối năm 1946 cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, giờ chót lệnh tản cư được thi hành. Tác giả khi đó là một thương nhân của kinh thành Thăng Long cũng phải đi tản cư cấp tốc. Tránh hết trận càng này đến trận càng khác, cả gia đình dần phiêu bạt tới nơi rừng thiêng nước độc thuộc vùng Ba Trại (Trại Trong, Trại Mít và Trảng Cỏ) thuộc tỉnh Hoà Bình.

Trong cái không may chung của dân tộc, thi sĩ Tùng Giang đã gặp được cái may riêng là tìm thấy hai ngôi mộ trên đồi thông và được một lão nhân ở Ba Trại kể cho nghe tường tận chuyện tình Mường ấp ủ dưới hai nấm mồ giữa đồi thông hình bán nguyệt. Phía dưới chân đồi còn có con suối bạc róc rách chạy ngang, nước trong vắt nhìn tận đáy suối thấy rõ đáy.

Theo lời lão nhân thuật lại cho tác giả quyển sách, câu chuyện tình chàng Đinh Lăng và cô nàng Quách Mỵ Dung đã có từ thời Minh Mạng. Đinh Lăng thiên tư thông minh, ham học. Mồ côi song thân ngay từ bé, được người chú nuôi dưỡng. Người chú mến tài quyết cho cháu theo đường đèn sách đến nơi, đến chốn. Năm Đinh Lăng 18 tuổi, người chú nhờ mai mối Mỵ Dung cho Lăng làm vợ.

Mỵ Dung thuộc dòng họ Quách, vốn nổi danh một đóa hoa quốc sắc thiên hương của đồi cao, suối bạc, sinh quán ở Trại Trong, cách sinh quán của Đinh Lăng ở Trại  Mít một quả đồi. Gia đình Mỵ Dung giàu có. Nàng được cho đi học đến năm 17 tuổi thì ở nhà lo việc tằm tơ. Nàng đẹp người đẹp nết, được nhiều chàng trai để ý nhưng nàng không ưng ý ai. Mỵ Dung vốn con nhà nề nếp gia phong. Nàng không ưa thói trăng hoa, sớm mận tối đào. Nàng nghĩ việc hôn nhân của nàng nên do mẹ cha quyết định, tự do kết hôn khi song thân còn sống là trái đạo. Nàng không muốn thế. Song nàng cũng muốn việc hôn nhân của mình thì cha mẹ cho phép nàng tỏ bày. Nàng nghĩ cổ tục của bao đời truyền lại không phải điều gì cũng nhất nhất tuân theo. Thuần Phong mỹ tục đem lại kết quả tốt đẹp thì giữ lấy. Còn trái đạo, bất công thì bỏ đi sớm ngày nào hay ngày ấy.

Từ ngày Mỵ Dung khôn lớn đã được mắt thấy tai nghe biết bao cảnh tượng thương tâm vì bị ép duyên gán phận, do hủ tục cổ truyền gây nên. Nàng cương quyết bài trừ tục lệ bất công đó. Nhiều lần nàng tự hỏi mình tại sao song thân nàng lại ấn định duyên nàng khi mới lọt lòng đã thành đạo vợ chồng với vị hôn phu mà giờ hoàn toàn hư hỏng cả tài lẫn đức. Nàng van xin hủy bỏ hôn ước ấy nhưng hủy sao được cổ tục thiêng liêng, quyền trên không thể trái đạo. Người mà nàng sở vọng được lấy làm chồng sau mấy năm cùng sách đèn là Đinh Lăng chưa hề sớm mận tối đào. Ý trung nhân của nàng là Đinh Lăng tài đức vẹn toàn, mối mai đủ lễ đến hỏi nàng làm vợ thì song thân nàng không đếm xỉa đến, chỉ biết ích kỷ giữ lời hứa.

Đồi thông hai mộ và câu chuyện về hai thiên tình sử bi thương 2
Quyển sách của tác giả Tùng Giang Vũ Đình Trung viết về đồi thông hai mộ ở Hoà Bình

Hồn em theo gió vi vu lạnh lùng

Ôm hủ tục, cha nàng nhất quyết từ chối lời cầu hôn của Đinh Lăng. Đã mấy lần chú của Đinh Lăng đến tận nơi khẩn khoản cầu hôn cho cháu nhưng cha của nàng luôn viện lý do đã đính ước việc hôn nhân của nàng với người khác ngay từ ngày mới lọt lòng. Quyền mẹ cha đặt đâu con ngồi đấy, cãi lời cha mẹ không sao tha thứ được. Sự chuyên chế, độc tài, lòng ích kỷ của đấng sinh thành đã nhẫn tâm phá hoại tương lai của con mình.

Để phá tan xiềng xích bất công, phản kháng cổ tục của gia đình, không chịu phục tùng duyên phận, nàng cương quyết thề sống thác với tình yêu. Thất vọng tình không liều nản chí/ Thất vọng tình không phí tuổi xanh. Tin tưởng tấm lòng thiết thạch của người yêu, Đinh Lăng xin chú ra đi lập thân oanh liệt với hy vọng có ngày tươi sáng, nghiêm lệnh của Mỹ Dung sẽ thay đổi để chàng và nàng thỏa mộng yêu đương.

Khi nhận được tin Đinh Lăng sửa soạn lên đường ra trận cho thoả chí nam nhi, báo đền non nước, Mỵ Dung trốn nhà lên đồi thông tiễn biệt Đinh Lăng với lời thề non hẹn biển: Non dù mòn suối dù cạn/ Tình không cạn nghĩa không mòn/ Cùng xoay tròn hạnh phúc. Xưa nay, nhân định thắng thiên tuy có nhưng vẫn là sự rất hiếm của trần gian. Chàng ra đi mãi không về, nàng ở nhà chống đỡ đủ nỗi đau thương, oán hận để đợi chờ người tri kỷ. Sầu chia ly chưa cạn, mộng đoàn tụ đã tan, cánh bèo mặt bể, hạt bụi đầu non, hoa xuân chưa nở đã tàn.

Phút cuối cùng, nàng đành tự vẫn để nêu cao gương tín nghĩa kiên trinh. Cái chết của nàng tuy tự nàng mua lấy, nàng chẳng oán trách được ai, nhưng so với đức hạnh ấy, với tài sắc ấy lại lâm vào hoàn cảnh lỗi thời ấy người biết chuyện cũng không khỏi bùi ngùi thương vay tiếc mướn. Nguyệt lão khéo đa đoan, se duyên dở dang, thuyền tình chìm bể ái. Khách hận tình đang lá thấm đôi dòng lệ, chỉ hồng buộc quá tang thương. Phượng với Loan chia Đôi Ngã, Én cùng Nhạn Bắc Nam. Phải chăng tu là phúc mà tình là dây oan?

Viết đến đây, tác giả đồng ý với chủ động của nạn nhân, nhưng không tán thành lý thuyết tự do kết hôn do toàn quyền sở ý của nam nữ thanh niên định đoạt. Tuổi thiếu niên nhiều nông nổi, ít từng trải xét mình xét người định việc nên rất dễ lầm lỗi. Tác giả vẫn đồng ý với cô nàng bạc phận, tán thành chủ trương bài trừ thói tảo hôn và bài trừ tục lệ cưỡng bách ép duyên, quyền định đặt đâu con ngồi đấy của cha mẹ, bắt con phải nhất nhất tuân theo sở ý của riêng mình là điều thiếu công bằng, thiếu tình nhân đạo.

Chí cả chưa thành, tình duyên đã lỡ. Đinh Lăng quay về mộng vở tình tan, thương người bạc mệnh trọng lời nguyền xưa. Không nản chí, không ngã lòng Đinh Lăng lại hăng hái lên đường vì non sông, vì bổn phận với tấm lòng ái quốc son sắc. Mỵ Dung chết vì Đinh Lăng. Nàng thừa can đảm thì chàng càng phải khâm phục nhưng chàng chưa thể chết theo nàng để thực hiện lời nguyền theo nghĩa hẹp được. “Nặng gánh giang sơn, nợ nước chưa xong tình nhà đâu kể”.

Cái chết của Đinh Lăng còn phải dùng vào nhiều nhiệm vụ quan trọng hơn, nhiều ý nghĩa đích thực cao xa hơn thì mới có thể đền bù xứng đáng với tấm lòng thiết thạch của người yêu. Rỏ dòng lệ máu, thổ thộ tâm can, biết bao đoạn thảm tình thương bên mộ Mỵ Dung, một nhi nữ chung tình. Đinh Lăng lại tiếp tục lên đường và tử trận mấy năm sau đó. Theo lời di ngôn, từ xa xăm ngàn dặm linh cữu của Đinh Lăng được đưa về nằm cạnh bên mộ người yêu. Từ đó, đồi thông bỗng nổi danh thành “kỳ nhân thắng cảnh”. Xa gần thiện nam, tính nữ vãng lai chiêm bái.

Ở đời nếu không có khí phách phi thường, không có sự nghiệp hơn người thì mấy khi được lưu danh hậu thế. Những ai lưu tâm với thời cuộc nước nhà không thể bỏ qua những dịp có thể làm cho dân hùng nước mạnh hoặc bằng văn chương ca ngợi những sự nghiệp cao cả của người xưa, hoặc bằng hành vi thiết thực của mình để tranh đấu cho giang sơn tổ quốc. Còn giang sơn kia, còn giống nòi này nước Việt Nam muôn đời bất diệt.

Cao Thục Đoan

Bình luận