Kỷ niệm xúc động của người vệ sĩ từng bảo vệ cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 1:05 28/11/2020 |

Ông Hai Đảo chia sẻ một trong những điều kiện quyết định để được làm vệ sĩ cho cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh lúc ấy là phải có 3 đời làm cách mạng.

Kỷ niệm của người vệ sĩ từng bảo vệ cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh
Ông Hai Đảo kể về thời gian làm vệ sĩ cho cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh

Ba đời cách mạng mới được làm vệ sĩ

Xã Lương Tâm (huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang) là 1 xã giàu truyền thống cách mạng. Nơi đây có 1 người lính già hiện đang sống những ngày êm đềm bên gia đình, ruộng nương. Ông từng là 1 trong 4 vệ sĩ sống kề cận cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong giai đoạn vị lãnh tụ này là Tư lệnh Quân khu 9.

Người lính già ấy là ông Võ Sĩ Đảo (Hai Đảo), năm nay đã gần 70 tuổi, dáng người gầy ốm, nhưng bước ra đường thì vẫn đầy phong thái của một người lính. Chiếc áo sơ mi cũ được ông bỏ trong quần cùng đôi dép da lấm đất ruộng. Ông thường đội chiếc mũ cối xanh – món đồ được ông gìn giữ và sử dụng hơn 45 năm qua.

Ngôi nhà nhỏ của ông Hai Đảo bao quanh là đồng ruộng, vườn cây, sông nước. Mùa mưa bão, nước ngoài sông dâng cao, tràn vào ruộng đồng, nhà cửa, để vào được nhà ông Hai Đảo thật khó khăn. PV phải gửi xe bên ngoài, cuốc bộ để tới được nhà ông.

Kể về quá khứ hào hùng của mình, gương mặt ông thể hiện rõ sự phấn chấn. Giọng hào hứng, ông bảo khoảng thời gian ông nhớ nhất là hơn 2 năm làm vệ sĩ cho Tư lệnh Quân khu 9, sau này đến năm 1992 là vệ sĩ cho cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

Ông nội và cha ông Hai Đảo đều tham gia cách mạng nên ngay từ bé ông đã luôn mong đợi đến ngày đủ tuổi để nhập ngũ. Ông Hai Đảo đi lính từ năm 17 tuổi. Thuở ấy ở xã Lương Tâm, nhiều thanh niên mới lớn như ông cũng hào hứng lên đường vào quân ngũ. Ông Hai Đảo bắt đầu với nhiệm vụ trinh sát của Trung đoàn 1 – U Minh, đây là công việc nguy hiểm chịu trách nhiệm trinh sát, dẫn đường cho đồng đội đánh giặc. Cũng trong thời gian này, ông được đàn anh chỉ bảo nhiều trong cách sử dụng súng, các thế võ.

Năm 1973, Tư lệnh Quân khu 9 lúc bấy giờ là đại tá Lê Đức Anh có nhiệm vụ ở xã Lương Tâm, cụ thể là căn cứ Ba Lào để chỉ huy nhiều trận đánh nhằm phá vỡ âm mưu bình định, tràn ngập lãnh thổ của địch sau Hiệp định Paris. Để bảo vệ sự an toàn tuyệt đối cho Tư lệnh, đơn vị của ông Hai Đảo được giao nhiệm vụ lập ra 1 tổ bảo vệ gồm 4 người. “4 người lính tham gia tổ bảo vệ năm ấy từ 20 – 22 tuổi, phải chọn người trẻ tuổi mới có đủ sự xông xáo, can đảm để bảo vệ thủ trưởng. Một trong những điều kiện quyết định để được làm vệ sĩ lúc ấy là phải có 3 đời cách mạng”, ông Hai Đảo kể.

Được chọn làm vệ sĩ của tư lệnh, ông Hai Đảo vừa mừng vừa lo. Nhưng cũng như mọi người, ông ý thức được sự quan trọng của chức trách mình đảm nhận, phải bảo vệ yếu nhân bằng mọi giá. Tác phong của một người lính trong ông từ đó có bước ngoặt mới với trọng trách lớn hơn. Mỗi vệ sĩ được cấp 2 khẩu súng, gồm súng trường K63 và súng ngắn K54, dao găm để thực hiện nhiệm vụ.

Kỷ niệm của người vệ sĩ từng bảo vệ cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh 1
Ở thời bình, ông Hai Đảo cũng là vệ sĩ, nhưng là vệ sĩ đưa rước đảm bảo an toàn cho đàn cháu nội, ngoại

Những kỷ niệm về Tư lệnh Quân khu 9

Ông Hai Đảo bảo, ông Sáu Nam (bí danh của cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh) là người rất bình dị, gần gũi với anh em. Thời điểm Tư lệnh về căn cứ Ba Lào, địch đánh phá bom rất ác liệt, cứ mỗi nơi, ông cùng 4 vệ sĩ ở được mươi bữa, nửa tháng là lại đến nơi ở mới. Công việc của các vệ sĩ từ đó lại càng vất vả, nguy hiểm hơn. Mỗi buổi sáng, trước khi Tư lệnh thức giấc, một vệ sĩ được phân công kéo 1 nhánh cây lớn đi khắp nơi trong khu vực, nhất là khu vực từ nhà ở ra nhà vệ sinh để rà bom, mìn. Một vệ sĩ khác được phân công chuẩn bị khăn lau, bàn chải đánh răng, một người khác nữa nhận nhiệm vụ nấu ăn bữa sáng cho Tư lệnh…

Sau đó, Tư lệnh đi công tác ở đâu là 4 vệ sĩ đều kề cận, quan sát tứ phía. Khi Tư lệnh đi ngủ, họ cũng phải túc trực trước buồng ngủ. Còn mỗi bữa ăn của vị yếu nhân này, ngoài rau củ quả được hậu cần cấp phát, cá thì các vệ sĩ thay nhau đi câu, gà vịt thì mua ngoài chợ. Tất cả khâu chế biến đều được phân công cho 1 vệ sĩ thực hiện. “Thực ra, 4 người chúng tôi là Tư lệnh có thể tin tưởng tuyệt đối rồi”, ông Hai Đảo nói.

Tuy thời gian kề cận Tư lệnh không dài, lại ít khi có cơ hội cấp trên nói chuyện với cấp dưới, nhưng từ những hành động nhỏ nhặt của vị lãnh đạo quân đội này, ông Hai Đảo không thể nào quên. “Theo quy định lúc đó là cấm tiệt rượu trong quân đội, nhưng 4 chúng tôi dù gì lúc đó cũng là thanh niên mới lớn, có bận rảnh rang chúng tôi cũng lén lén uống rượu. Nhưng đâu dám uống nhiều, uống xong khi làm nhiệm vụ phải nhai tỏi cho át mùi rượu. Tư lệnh cũng biết chuyện đó, nhưng ông không trách mắng chúng tôi gì cả. Tư lệnh chỉ nhắc nhẹ là các đồng chí nghỉ ngơi đi, chơi ít thôi, còn nhiệm vụ. Ông ấy chỉ nói vậy thôi là chúng tôi biết lỗi rồi”, ông Hai Đảo xúc động nhớ lại.

Rồi có một đợt, ông Hai Đảo cùng tổ vệ sĩ theo bảo vệ Tư lệnh trong 1 trận đánh ở Vĩnh Thuận (Kiên Giang). Lúc đó khoảng 8 giờ sáng, Tư lệnh ngồi họp dưới công sự với 5 cấp chỉ huy khác, 4 vệ sĩ cùng mấy anh em cảnh vệ khác đứng vòng tròn trên công sự để cảnh giới. “Lúc đó, có một trái bom giặc Mỹ ném gần lắm, một mảnh bom nổ văng trúng chân đồng chí đứng cạnh tôi. Anh ấy khụy xuống và được đồng đội đưa đi cấp cứu. Đó cũng là lúc tôi và các anh em hiểu được vai trò và tầm quan trọng của một vệ sĩ là như thế nào. Chúng tôi có thể hy sinh vì nhiệm vụ không hối tiếc”, ông Hai Đảo kể.

Những ngày tháng bên Tư lệnh thấm thoát thoi đưa, những trận đánh dưới sự chỉ đạo của vị tướng lĩnh tài ba liên tục giành nhiều thắng lợi. Đến cuối năm 1974, Tư lệnh được rút về Trung ương và đến năm 1992 trở thành Chủ tịch nước. Ông Hai Đảo và tổ vệ sĩ hoàn thành nhiệm vụ.

Mấy năm sau, ông Hai Đảo có hành quân đến Tri Tôn, An Giang để tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Sau đó, ông phục viên, lấy vợ, chính thức giã từ đời lính chiến. Ông Hai Đảo có cha là Trưởng Công an xã Lương Tâm lúc bấy giờ nên được anh em trong xã động viên quay về xã công tác, phục vụ nhân dân. Được vài năm, ông muốn quay về với ruộng đồng và gia đình. Nhưng với truyền thống gia đình, ông tiếp tục tham gia Hội Cựu chiến binh, Hội Chữ thập đỏ ở địa phương để vận động giúp đỡ bà con nghèo.

Ông Hai Đảo có vợ và 4 người con, trai gái đủ cả. Đến nay ông đã có 7 đứa cháu nội ngoại. Hằng ngày, ông dành hết thời gian để chèo ghe đưa đi đón về 3 đứa cháu đang học cấp 1. Những đứa con, cháu được sự giáo dục của ông về truyền thống gia đình, tinh thần yêu nước, ai cũng tự hào về người cha, người ông của mình. Với ông Hai Đảo, cuộc sống như vậy là mãn nguyện lắm rồi.

Hàm Hương

Bình luận

Bạn có thể quan tâm