Ký ức khói lửa trên chiến trường Tây Nam Bộ

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 1:07 17/02/2021 |

Chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến dịch giải phóng Phnom Penh đã lùi lại phía sau, thế nhưng với những cựu chiến binh, những kỷ niệm vẫn còn đó. Đó có thể là phút giây hy sinh của đồng đội hay một mảnh đạn mang trong mình suốt hàng chục năm chợt “xuất hiện” và được xem như là một kỷ vật.

Ký ức khói lửa chống Khơmer Đỏ trên chiến trường Tây Nam Bộ 4
Người dân Campuchia tháo chạy khỏi quân Khơmer Đỏ

Xe cháy, không để đồng đội chết

Trong tiết trời rét đậm, ông Trần Đức Trầm, xóm Hồng Nam, xã Quang Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) vẫn lụi cụi bên đám ruộng chuẩn bị cho vụ lúa mới. Ông Trầm là cựu binh ở chiến trường Tây Nam Bộ chống chế độ diệt chủng Pol Pot từng tham gia giải phóng Phnom Penh vào ngày 7/1/1979 và tham gia giữ thủ đô Campuchia trước sự phản công của quân Khơmer Đỏ trong những năm đầu thập niên 80.

Tháng 10/1977, vừa tròn 20 tuổi, Trần Đức Trầm cùng hàng trăm đồng đội ở quê lúa Yên Thành lên đường nhập ngũ. Ông về Sư đoàn 312 đóng tại tỉnh Vĩnh Phú. Đầu năm 1978, đơn vị hành quân vào miền Nam bổ sung cho Quân Khu 7 và lực lượng Hải Quân phía Nam. Đại đội của ông Trầm bổ sung cho Quân Khu 9, thuộc Sư đoàn 330. Lúc này, tuyến biên giới các tỉnh Kiên Giang, Tây Ninh đang hứng chịu những cuộc tiến công mạnh nhất của quân đội Khơmer Đỏ trong giai đoạn 2 của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam.

Vừa nhận đơn vị, ông đã cùng đồng đội xung trận, chiến đấu giải phóng thị xã Hà Tiên (Kiên Giang). Việc đi lại chủ yếu bằng thuyền, phương tiện không mấy quen thuộc đối với những tân binh miền Bắc như ông. Trận chiến chống Khơmer Đỏ kéo dài 24 ngày thì thị xã Hà Tiên được giải phóng hoàn toàn.

Ký ức khói lửa chống Khơmer Đỏ trên chiến trường Tây Nam Bộ
Ông Trần Đức Trầm

Ngày 1/1/1979, ông Trần Đức Trầm vẫn nhớ rõ mốc thời gian, ông theo đơn vị định vượt qua kênh Vĩnh Tế đánh sang phía bên kia biên giới thì bất ngờ gặp phải trở ngại là bãi mìn của quân Khơmer Đỏ. Lúc đó một đơn vị trinh sát đã dẫn đoàn quân đi đường vòng. Thoát được trận địa mìn, đơn vị lại gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân địch. Dù vậy thì ngày 7/1/1979, đơn vị của ông cũng kịp thời tham gia giải phóng Phnom Penh. Đó là thời khắc mà ông không bao giờ quên.

Tận hưởng niềm vui chưa được bao lâu thì đơn vị ông phải tham gia truy quét tàn quân của Khơmer Đỏ, lúc này đã lùi vào rừng sâu. Suốt năm 1979 cho đến đầu 1980, đơn vị của ông phải chống lại lối đánh du kích của phía địch.  Vào sáng sớm một ngày tháng 4/1980, ông phát hiện quân địch chỉ ở cách mình một cự ly rất ngắn.

“Tôi đang định nã B41 vào đội hình của chúng thì một quả đạn M79 bất ngờ nổ ngay phía sau lưng làm tôi bị thương. Trong lúc trên đường trở về tuyến sau, xe tải thương lại bị trúng mai phục. Xe cháy, trong khi tôi chưa biết phải xoay xở thế nào thì ông tiểu đoàn trưởng tên là Thùy quê Hải Phòng đã kiên quyết chỉ huy anh em dù xe cháy, không được để đồng đội chết. Vì thế tôi mới được sống sót”, ông Trầm nhớ lại.

Đó cũng là quãng thời gian ở quê nhà rộ lên tin ông Trầm hy sinh. Cha ông vì quá thương nhớ con nên đổ bệnh rồi qua đời. Sau này có một người trong đơn vị được về phép đưa tin, người nhà mới biết ông Trầm còn sống. Sau khi bị thương, ông Trầm được phục viên trở về địa phương và lao động như những nông dân quê lúa Yên Thành khác. Dẫu vậy, khoảng thời gian hơn 5 năm chiến đấu ở chiến trường Campuchia (1978 – 1983) chống quân Khơmer Đỏ thỉnh thoảng lại hiện về trong giấc mơ của ông.

Kỷ vật chống Khơmer Đỏ là mảnh đạn pháo

Nhập ngũ cùng thời điểm với ông Trầm là ông Hà Văn Giảng. Ông Giảng ra trận khi đang là một anh trai núi có sức khỏe vào loại tốt nhất bản. Ấy vậy mà chàng trai có sức vật ngã bò mộng ngày nào giờ đã là một thương binh hạng 4/4 sống ở bản Liên Đình (xã Chi Khê, huyện Con Cuông).

Ký ức khói lửa chống Khơmer Đỏ trên chiến trường Tây Nam Bộ 1
Ông Giảng và kỷ vật chống quân Khơmer Đỏ là mảnh đạn pháo trong người suốt 15 năm

Tháng 11/1977, Hà Văn Giảng, chàng trai người Thái mới 19 tuổi từ giã làng bản lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện tại huyện Tân Kỳ (Nghệ An) ông hội quân cùng đơn vị ở núi Bà Đen (Tây Ninh) thuộc Đại đội 10, Trung đoàn 977, Sư đoàn 31, Quân đoàn 3.

Lúc này, quân đội Khơmer Đỏ đã gây ra họa thảm sát diệt chủng đối với người dân vùng biên giới. Vừa đến nơi giao nhận quân, ông đã phải trực tiếp đào huyệt chôn cất 1 gia đình có 7 nhân mạng bị hành quyết, trong đó có 1 phụ nữ đang mang thai. Thai nhi cũng được chôn cất trong một ngôi mộ riêng. Đó là lần đầu tiên, anh trai núi với 1 năm tuổi quân chứng kiến một cảnh ngộ thương tâm như thế. Tiếp sau đó, học sinh tại một trường học gần đó bị thảm sát. Hôm đó cũng là ngày ông bước vào trận đánh đầu tiên của đời lính. Ông nhớ đó là trận đánh vào cửa khẩu Xa Mát Sau tiến tới giải phóng tuyến biên giới huyện Tri Tôn tỉnh An Giang.

Trận đánh mà ông nhớ nhất là tại cao điểm 105 trên đất Campuchia. Ở đó đại đội của ông bị bao vây trong vòng 7 ngày. Trong trận đánh giải vây, ông Giảng bị dính 18 vết thương từ những mảnh đạn pháo chùm. Sau đó không lâu, đầu năm 1980, ông phục viên trở về bản. Để nuôi sống vợ cùng 5 người con, ông phải vào rừng xẻ gỗ. Đến năm 1994 ông bị một vết thương ở nách. Các y bác sỹ ở trạm xá Chi Khê giúp ông lấy mảnh đạn đã “cư trú” trong người ông suốt 15 năm.

Đến năm 1997, thấy đau ở ngực trái, ông đến bệnh viện chụp phim và phát hiện thêm một mảnh đạn khác găm trong phổi. “Cảm thấy sức khỏe không bị ảnh hưởng nhiều nên tôi cũng không làm phẫu thuật vì sợ khi mổ rồi còn ốm hơn không mổ. Thôi thì cứ làm bạn với nó”, ông nói với giọng hài hước.

Mảnh đạn mổ ra từ năm 1994 vẫn được ông gìn giữ bên cạnh. Ông coi đó như kỷ vật truyền lại cho con cháu để họ không bao giờ quên đi một thời chiến đấu hy sinh của những cựu binh chống chế độ diệt chủng Pol Pot.

Niềm đau đáu với đồng đội

Cũng sinh ra ở miền núi rừng Con Cuông, nhưng ông Vi Dĩnh lại vào chiến trường chống quân Khơmer Đỏ trong vai trò một người chỉ huy. Sau khi tốt nghiệp trường Sỹ quan lục quân ở Sơn Tây (Hà Nội) vào tháng 9/1977, ông cùng với gần một nửa số sỹ quan trẻ của khóa học được điều vào chiến trường Tây Nam Bộ thuộc Trung Đoàn 206,  Sư đoàn 341, Quân đoàn 4. Đơn vị đóng quân ở huyện Trảng Bàng (Tây Ninh). Khi quân Khơmer Đỏ đánh vào lãnh thổ Việt Nam, đơn vị của ông được điều động giữ thị xã Hà Tiên, năm 1978, thì tăng cường cho đảo Thổ Chu, cửa khẩu Mộc Bài rồi chi viện cho Quân khu 9 và một sư đoàn khác bị mất chốt.

ký ức chiến trường
Đại tá Vi Dĩnh kể chuyện chiến trường

Ngày 1/1/1979, đơn vị của ông Dĩnh có nhiệm vụ đột kích vào một cây cầu ở tỉnh Savay Rieng nhưng thất bại và phải đi đường vòng. Vì thế mà phải đến chiều 7/1/1979 đơn vị mới vào đến Phnom Penh. Sau khi giải phóng Phnom Penh, trong suốt 2 năm 1979 và 1980, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ giữ thủ đô cũng như thị xã Cong Pong Chapư (tỉnh Cong Pong Cham). Cuối năm 1980, ông trở về nước.

Dù là một chỉ huy cấp đại đội rồi tiểu đoàn trưởng, nhưng ông Dĩnh cho hay bản thân luôn sát cánh chiến đấu cùng anh em. Trong một trận đẩy lùi cuộc tấn công của quân Khơmer Đỏ cuối năm 1978, đơn vị phải chiến đấu bằng dao găm và lựu đạn, trong đó mọi người luôn có một quả dành cho riêng mình phòng khi rơi vào tay địch. Khi sang đến đất Campuchia, trong trận đánh ngày 27/4/1979, ông bị thương trong khi cả tiểu đoàn đang hành quân thì bị chặn lại. Lúc này, ông liền lên tuyến đầu để điều chỉnh đội hình thì bị một quả đạn cối 81 nổ ngay trước mặt làm bị thương.

Thế nhưng kỷ niệm mà ông nhớ nhất là sự hy sinh của một đồng đội tên Thư quê tỉnh Nam Định. Chiến sỹ liên lạc Thư khi ấy mới 20 tuổi là người điển trai nhất đơn vị. Hôm đó, chiến sỹ liên lạc này chợt xin đi theo ông trong cuộc truy quét căn cứ quân Khơmer Đỏ giáp biên giới Thái Lan. Vào buổi sáng hôm sau, trong khi đi lấy nước nấu cơm, anh Thư bị dính mìn do quân địch cài kép. Sau đó, ông chứng kiến thêm sự hy sinh của 2 đồng đội nữa. Một người ở Thạch Hà (Hà Tĩnh), người kia ở Phú Nhuận (TP. Hồ Chí Minh).

Hiện nay, dù đã nghỉ hưu với quân hàm đại tá, nhưng hàng năm, vào tháng 7, ông Vi Dĩnh cũng đến thắp hương cho những đồng đội đã hy sinh khi sát cánh bên ông. Chiến sỹ Thư đã được được tập kết về Nam Định, ông Hải cũng đã về quê hương Thạch Hà … Đó là những người bạn đã vào sinh ra tử mà ông Dĩnh không bao giờ quên. “Mỗi khi thắp cho đồng đội, tôi lại biết trân quý hơn cuộc sống hòa bình”, vị đại tá già tâm sự.

Minh Nguyệt

Bình luận

Bạn có thể quan tâm