fbpx

Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Một vài thương mến ấy

Đăng lúc: 8:25 25/02/2019 -

Tôi không nhớ nổi mình đã từng chăm bao nhiêu con… lợn trong suốt những năm còn là đứa bé chín mười tuổi đến khi đi làm. Nuôi lợn không có lãi, thậm chí lỗ. Mẹ tôi năm nào cũng lẩm bẩm tính tính đếm đếm sau khi bán đi một con lợn, nhưng năm nào cũng nuôi. Và cả làng, nhà nào cũng nuôi. Bởi nuôi lợn giống như bỏ ống, tích cóp nhặt nhạnh từng tí một, dành dụm ra từng tí một, bỏ vào cám bã, cuối năm bán đi cũng được một món.

Nhà tôi nuôi cá, gà và lợn. Gà thì khỏi tính, tự đi kiếm ăn loanh quanh trong vườn. Cá nuôi bằng cỏ. Đấy là việc nặng nhọc, anh tôi làm. Việc của tôi là chăn lợn. Hồi bé, tôi rất thích truyện Hoàng tử chăn lợn của Andersen. Chàng hoàng tử trót mê một cô công chúa, nhưng cô ta không ưa chàng. Chàng bèn giả làm người chăn lợn, vào cung chăn lợn cho nhà vua. Vì ham của lạ, cô công chúa đã nhẫn nhịn hôn anh chàng hoàng tử dưới lốt một kẻ chăn lợn hèn kém hàng trăm cái. Cái thú vị của câu chuyện này là rốt cuộc công chúa bị đuổi ra khỏi cung, mà chàng hoàng tử cũng coi khinh, chả thèm yêu cô nữa. Một cái kết không cổ tích tí nào. Tôi thích, vì nó kết như thế.

Ngày nào tôi cũng phải lo cho con lợn 3 bữa ăn. Lúc bé, mới bắt về, nó ăn rất ít. Hẳn rồi. Lợn con mà. Những con lợn khoang trắng đen, đôi khi là một con đen thui hoặc trắng hồng hào từ đầu đến chân. Càng lớn nó càng ăn nhiều. Tôi đi học xa, trường cách nhà mười cây số. Ngày nào tôi cũng đạp xe đi từ tinh mơ, gần 12 giờ trưa mới tan. Trên đường về, dọc sông Lô, có rất nhiều cây gạo. Những cây gạo vào tháng Ba nở hoa đỏ ối trên nền trời, nền rừng xanh biếc. Những cây gạo nếp thì hoa màu vàng. Sau gác ba ga xe đạp bao giờ cũng giắt một chiếc bao tải. Đói mấy thì đói, hoa mắt run chân thì cũng phải dừng lại dưới gốc gạo, nhặt cho đầy một bao tải, buộc lên xe và chở về nhà. Hoa gạo ấy là để… nấu cám lợn.

Bọn lợn ở quê dễ nuôi, cái gì cũng ăn, cứ nhừ là được, no bụng là được. Hoa gạo về bỏ cuống, bỏ nhị, thái ra và cho vào nồi gang để nấu. Hoa nhừ thì cho cám vào. Khuấy đến sánh đặc, chín thì bắc ra. Cám nấu bằng hoa gạo trông rất ngon mắt, vì nó đỏ hồng. Nhưng mùa hoa gạo không kéo dài. Sau đó phải lên rừng chặt chuối. Chuối mọc dọc khe nước, nhưng phải leo rất cao. Có hai loại, chuối đen và chuối vàng. Chuối vàng ngon hơn, nhựa trong, ít chát. Chặt chuối là công việc nặng nhọc, vì cây chuối rất nặng, chặt xong phải vác đi dọc khe nước trơn trượt, tối om về nhà nên thường là anh đi chặt chuối giúp tôi. Đôi khi, anh cùng tôi đi vớt bèo. Bèo cám, bèo hoa dâu, bèo cái… Ngoài cánh đồng mênh mông, xanh mướt mát, bậc thang thoải ra phía dòng sông yên tĩnh, dưới chân những hàng lúa còn chưa trổ đòng luôn có đầy bèo. Những thảm bèo mịn màng, xanh nõn, trĩu nặng. Bèo ở trong ruộng ăn mất dinh dưỡng của lúa nên xin vớt bèo chẳng ai từ chối, chỉ có điều phải cẩn thận để không dẫm đạp xiêu vẹo gốc lúa nhà người ta. Đầy hai thúng bèo thì về.

Ngày ấy, mỗi con lợn nuôi gần cả năm trời mới được xuất chuồng

Mỗi con lợn nuôi gần cả năm trời. Nuôi lâu lắm. Chả hiểu sao lợn hồi ấy lâu lớn đến thế. Nuôi lâu, nên con lợn khôn, mà người nuôi cũng thân thiết dần với nó. Những trưa hè, tôi thường vần con lợn ra tắm. Một cái chổi tre, cắt ngắn, một cái xô múc nước. Mẹ bắt tôi đi ủng khi leo vào chuồng vì sợ chân có vết gai đâm, dễ nhiễm trùng, nhưng tôi toàn đi chân đất. Nền chuồng láng xi măng, hơi dốc để dội nước nhanh ráo. Con lợn thấy tôi xách cái xô ra, lôi cái chổi giắt trên mái xuống là lập tức nằm kềnh sẵn ra, miệng kêu ịt ịt. Trời nóng, nắng chói chang, cảm thấy nền chuồng bốc khói, nên đầu tiên cứ dội vài xô ào ào cho hắn ta sướng cái đã. Rồi lấy chổi kì cọ khắp người, từ đầu đến đuôi, bụng, lưng, cả mõm luôn. Tôi vừa cọ vừa trò chuyện với con lợn, thỉnh thoảng hát, thỉnh thoảng kể cho nó nghe chuyện chàng hoàng tử chăn lợn. So với nó thì tôi bé tí. Tôi chỉ nặng chưa bằng nửa nó. Để cọ cho bằng hết con lợn tôi phải đi một vòng, chốc chốc lại thúc vào bụng để nó trở mình, cọ bên kia. Mặc kệ tôi nói gì thì nói, con lợn chỉ thở phìn phịt và thi thoảng rên khè khè. Tắm cho lợn xong, tôi nhảy tùm xuống ao, vì đầu tóc người ngợm toàn mùi lợn.

Mẹ tôi thường bán lợn vào trước Tết, tháng Chạp. Cả năm nuôi nấng chăm bẵm, thót ruột thót gan mất ăn mất ngủ mỗi khi nó dở chứng bỏ bữa, rốt cuộc cũng chỉ chờ đến Tết để bán đi, lấy tiền sắm sanh.

Năm 1979, chiến tranh biên giới nổ ra. Cả nhà tôi đi sơ tán. Bom đạn đì đùng, biết thế nào, cứ sơ tán cho yên tâm. Nhưng khổ nỗi, trong chuồng còn con lợn gần tạ. Tết nhất đến nơi, trong tình cảnh đầy âu lo, bất an, hỗn độn ấy, còn ai có tâm trí nào mua lợn về thịt để bán Tết. Thế nên lợn ế. Bán không được, mang theo không được, nghĩ mãi, bố mẹ tôi quyết định để anh cả tôi ở lại để… trông con lợn. Thế là cả nhà tôi đi sơ tán, cả làng tôi cũng đều đi sơ tán, còn mỗi anh tôi ở lại, một mình, trong cái thung lũng heo hút tịch mịch ấy. Sau này, mẹ tôi nhắc mãi: Đi rồi mới ân hận. Đáng lẽ không nên tiếc con lợn mà để anh tôi ở lại trông. Thôi thì kệ xác nó, mấy ngày Tết nó nhịn ăn, sống được thì sống, chả sống được thì chịu, chứ nhỡ mà có chuyện gì xảy ra với anh tôi thì làm sao? Sau Tết, chúng tôi trở về nhà, may mắn là mọi thứ vẫn bình thường. Cả người, cả lợn, cả khu vườn, làng xóm… còn y nguyên. Biên giới chỉ cách có hai chục cây số, súng đạn vẫn đì đoàng suốt ngày đêm, nhưng ở cái làng ấy, mọi thứ vẫn yên bình.

Tôi không nhớ con lợn đầu tiên tôi chăm, nhưng tôi nhớ con cuối cùng. Khi tôi bắt đầu “đi làm”, ở tỉnh, cách nhà chục cây số. Mẹ tôi nói, tiền bán con lợn ấy là để mua cho tôi một chiếc xe đạp. Con lợn bán được sáu trăm chín mươi nghìn và tôi mua một chiếc xe Vĩnh Cửu cũ, giá bảy trăm nghìn. Tức là mẹ phải bù cho tôi mười nghìn.

Con lợn ấy lông trắng tinh, béo mầm, bụng quệt sát xuống sàn chuồng. Hai tai to, vểnh và tôi đã từng buộc hai sợi len đỏ lên đấy để… làm đẹp cho nó. Ngày mẹ tôi gọi người mua đến, tôi kiếm cớ ra khỏi nhà. Tôi sợ nhìn thấy cái cảnh người ta trói bốn chân và treo ngược nó lên bằng cái móc của chiếc cân tạ. Con lợn của tôi, bao nhiêu yêu mến thân thiết chăm bẵm, tôi không thể nhìn thấy nó bị treo, bị trói, bị khiêng lên và buộc chặt vào đằng sau chiếc xe đạp với một cái giá chắc chắn bằng gỗ. Thực ra thì lần nào nhà bán lợn tôi cũng trốn đi. Tôi sợ nghe tiếng con lợn khóc nữa. Tôi tin là nó khóc. Đôi mắt với hai hàng lông mi dài lê thê của nó chắc chắn sẽ đầy ậng nước khi bị tóm ra khỏi chuồng và trước mặt là cái… lò mổ.

Khi tôi về thì cái chuồng đã trống không. Phải cả tháng sau đó, tôi không ăn thịt lợn, chỉ vì nghĩ rằng rất có thể đó là thịt của con lợn mà tôi đã nuôi cả mười tháng trời.

Mẹ tôi bảo, tôi đi làm rồi thì không ai đi vớt bèo về chăn lợn được nữa, nên thôi, bỏ nghề nuôi lợn. Cái chuồng lợn rỗng không vẫn ở đấy, thay vì nuôi lợn thì nó trở thành cái kho để chứa củi, bình phun thuốc sâu, cuốc xẻng, thúng mủng, cả một chiếc xe cút kít. Thỉnh thoảng, sáng tinh mơ còn chưa ra khỏi giường, tôi đã nghe như tiếng con lợn rên rỉ đòi ăn. Thỉnh thoảng lại loáng thoáng nghe nó tợp những miếng cám to tướng và phát ra những tiếng bồm bộp bồm bộp. Tôi kể, mẹ tôi ngạc nhiên bảo: Lạ thật, mẹ cũng thấy thế.

Hóa ra, chỉ cần có một vài thương mến là thứ gì cũng có thể trở nên thân thuộc, cho dù chỉ là việc nuôi một con lợn.

Bình luận