fbpx

Nỗi thống khổ “đến hẹn lại lên” của thực phẩm dịp Tết: Trà bẩn – có thể là sự đầu độc từng giờ, từng bữa, trong mỗi gia đình! (kỳ cuối)

Đăng lúc: 3:13 21/02/2019 -

Luống chè sạch trồng riêng cho người ung thư

Lại có câu chuyện nữa thế này: Trong bệnh viện ung thư, hai bệnh nhân ngồi tâm sự. Anh trồng rau bảo: “Tôi phải trồng riêng một luống rau, không phun tưới gì cả, để nhà tôi ăn”. Anh trồng chè khoe khôn: “Chè nhà tôi cũng có một góc vườn riêng, không phun tưới gì để tôi còn dám uống chè tươi và chè mạn mỗi ngày. Chứ không thì chết à”. Sự thật là chẳng ai thoát được hậu quả của việc sử dụng thực phẩm có hóa chất độc hại khi mà chính họ và xung quanh họ thi nhau làm điều xấu xa. Bởi một xã hội hàng hóa thì anh trồng rau uống chè bẩn của anh trồng chè và ngược lại anh trồng chè ăn rau bẩn của người trồng rau và vô vàn người khác nữa.

Với Việt Nam và một vài quốc gia, thì số người thường xuyên uống chè tươi, chè mạn, chè búp, chè bồm là rất nhiều. Tràn lan các quán trà đá vỉa hè. Hầu hết các gia đình đều có bộ ấm chén pha trà. Nhiều người, ngày nào cũng vậy, ít nhất ba bữa sáng trưa chiều là không thể thiếu ấm trà ngào ngạt hương. Nhiều người đi công tác, đi nước ngoài, cũng không thể thiếu ấm trà, chè búp (chè mạn) và các dụng cụ thưởng trà khác. Ở nước ta, chắc chắn không có thứ đồ uống nào được chuộng ở bình diện cực rộng như chè. Vỉa hè nào cũng có chè bán từng chén. Hầu như gia đình nào cũng pha trà mỗi bữa ăn và các thế hệ cả nam phụ lão ấu quây quần uống. Thật hiếm có gia đình nào, khi khách đến mà không làm việc đầu tiên là… pha trà. Giữa bối cảnh ấy, nếu không đảm bảo được sự thanh sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm cho mặt hàng thiết yếu là trà thì hiểm họa là cực lớn. Nó ở mỗi gia đình, mỗi bữa cơm và hoàn toàn có thể diễn ra tình trạng: một ngày vài ba cữ “tiêm trà bẩn vào cơ thể” trên quy mô cực lớn.

Chè được sao sấy mất vệ sinh

Chúng tôi đi dọc các vùng chè ở Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Phải nói rằng, cây chè được phun thuốc trừ sâu là hết sức phổ biến. Tất nhiên, như bà con nói, với sự hoành hành của sâu bệnh và sự bạc màu của đất bị khai thác quá đà, nếu không phun thuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng thì có mà “há mồm”, “trắng tay”. Tức là không còn gì mà “ăn”. Rau mất, chè mất vì sâu bệnh. Tuy nhiên, có quá nhiều người đã lợi dụng điều đó để lấp liếm cho một sự thật khác: Vì tham lam, hám lợi, vì tình trạng buông lỏng quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm nên họ luôn tìm mọi cách bón ép bón thúc các loại thuốc hóa học để chè lớn nhanh hơn, đẹp mã hơn, tóm lại là nhanh có tiền và có nhiều tiền hơn. Khi các sự vụ chè bẩn vỡ lở, người tiêu dùng choáng váng kinh hoàng. Hóa ra luống chè để uống và luống chè để bán là câu chuyện có thật. Mời giáo sư uống chén thuốc sâu là tâm trạng chán nản tuyệt vọng và hoang mang có thật của không ít người tiêu dùng. Vì cơ quan quản lý đã bất lực. Người tiêu dùng vô tội rên xiết, chết dần chết mòn vì các bất cập tày trời kể trên.

Một bài toán đơn giản: Ai có đất thì trồng chè, ai có cây chè và có bình phun thuốc sâu thì cứ việc. Đại lý bán thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, ai mua gì và phun tưới gì, tùy thích. Khi chúng tôi hỏi: “Bác ơi, phun thuốc sâu thế này có ai góp ý hay chỉnh huấn gì không?”. Trả lời: “Vườn nhà tao, tao phun bón, việc gì đến ai”. “Thế bao lâu sau phun thuốc thì thu hoạch?”. “Tao hỏi mày, nay mày phun, mai rau, chè nó đến đận thu hái, thế không lẽ mày chờ thêm 20 ngày nữa, lá búp nó già câng ra thì bán ai mua?”.

Họ nói thật đến xót xa. Và người dân tự trồng, hái, sao đảo chế biến rồi đem bán. Người tiêu dùng lãnh đủ nếu sản phẩm chè kia là độc hại. Cái việc ai đó xét nghiệm các sản phẩm kia trước khi chúng được vào mồm “tao nhân mặc khách” thưởng trà… – là điều không tưởng. Hầu như không có được một sự kiểm soát nào hữu hiệu nên mới có việc, khi chúng tôi xâm nhập các đường dây: Người ta vô tư bỏ mì chính và đường vào cho chè ngọt nước, bỏ vôi ve quét tường và hóa chất vào cho chè xanh nước, tẩy ít bột than đá vào “rang” (sao) khô chè lên để cho búp chè đen ánh, phủ tuyết trắng. Bột đá cũng được tống vào để tăng trọng lượng của chè, mà giá bán thì cứ cân chè bằng một yến gạo.

Chế biến chè bẩn tại một cơ sở sản xuất chè

Gặp gỡ vài chủ kinh doanh “chè… công nghệ”

Sự thật cứ diễn ra lồi lồi như vậy. Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Chỉ đến khi báo chí phát hiện hoặc vài người dân vì lý do cá nhân nào đó (như ghen ăn tức ở, triệt hạ đối thủ làm ăn) mới tố cáo các việc làm sai trái của người sản xuất và kinh doanh chè bẩn, thì vài sự việc mới vỡ lở. Tất cả chỉ là phần nổi của tảng băng chìm kinh dị.

Xin được kể về những trường hợp cụ thể nhất. Ở xã Đông Khê, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ và xã Nhữ Hán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, lúc nhóm phóng viên có mặt thì nhiều người hám lợi đã pha tạp chất vào chè khi chế biến. Dĩ nhiên chả ai làm chè bán cho… lợn gà. Chè là cho người uống. Vậy mà họ tống cả hóa chất vào. Phóng viên dùng hóa chất đó đổ ra tay, chà xát thế nào thì nó cũng không bị mờ đi. Độ bám dính như sơn công nghiệp. Dung dịch này không rõ nguồn gốc, có màu xanh biếc, thơm mùi chè xanh. Người sản xuất nói trước ống kính ghi hình lén của chúng tôi rằng cho các hóa chất ấy vào để làm cho chè xanh nước và đẹp cánh. Ai cũng thích chè phải đậm đà và để lại dư vị ngọt sau khi uống, nước chè phải xanh đẹp, cánh chè phải bắt mắt. Thế là tư thương cho hóa chất không rõ nguồn gốc và vi phạm đủ mọi thứ quy định kia vào.

Pha trộn hóa chất vào chè

Chưa hết, trước khi đem chè từ Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang sang Thái Nguyên giả làm chè của “thủ phủ đất chè nổi tiếng” thì tư thương còn dạy nông dân cách tăng trọng lượng của chè. Họ gọi chung đó là làm chè bằng “công nghệ”. Tạp chất này nặng như bột đá, khi cho vào chè, sao đảo quấy lên thì chè vón cục, đen xám. Sau khi được báo chí phản ánh, để làm rõ thực hư, Ban chỉ đạo 389 Quốc gia đã phối hợp với cơ quan chức năng địa phương, đột xuất kiểm tra quy trình sản xuất chè “bẩn” đầy tai tiếng ở Phú Thọ và Tuyên Quang. Khi ập vào, hóa chất tạo màu vẫn còn nguyên, bột đá tăng trọng lượng chè vẫn chình ình ra đó.

Đấy là chưa kể, đoàn kiểm tra chứng kiến đủ thứ vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm: chè thu hái và chế biến, ném bừa ra nền đất đá, bụi bẩn. Giày dép từ ngoài vườn ngoài rừng bẩn thỉu đi thẳng vào khi chế biến, giẫm lên cả chè tươi, chè đang sơ chế. Cơ quan chức năng các tỉnh tiếp tục kiểm tra theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo 389 Quốc gia, và phát hiện rõ hơn về các loại tạp chất làm tăng trọng lượng của chè. Người dân khai báo: Bình thường, 5kg chè tươi mới được 1kg chè khô. Nhưng khi cho tạp chất vào thì chỉ cần 3kg chè tươi là được 1kg chè khô. Bà con lãi lớn nên xông vào làm theo kiểu bẩn thỉu độc hại đó. Hậu quả, người tiêu dùng bị “đầu độc”, “tàn sát” mỗi giờ, mỗi bữa, mỗi gia đình, mỗi hàng quán, công sở.

Trước đó, thảm nạn chè trộn phân lân, trộn bột đá, xi măng, trộn cả bùn đen, rồi chè phơi chỏng chơ trên bùn đất, ven các con đường bụi bặm như một thứ… rác rưởi cũng đã diễn ra ở tỉnh Yên Bái. Nếu việc trộn mì chính vào chè gây bức xúc, nhưng không hề gây hậu quả chết người hay không quá tàn độc thì việc trộn phân lân, bột đá, xi măng, bùn đất vào chè là các hành động của quỷ! Mấy năm trước, khi thông tin trên rầm rộ trên báo chí, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn và UBND các tỉnh đã phải “đau đầu” điều tra, xử lý. Các nhà báo về con đường vài chục cây số từ TP. Yên Bái đi các huyện Trần Yên, Văn Chấn (QL37) thì thấy tràn ngập chè bẩn phơi ra đường. Phân gà lẫn vào chè. Chè trộn cả bột gạo, bột sắn, bột ngô.

Chè được chở đi tiêu thụ

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn Yên Bái lúc đó đã phải thừa nhận về tình trạng chè kém chất lượng và không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm này. Việc làm ra thứ chè siêu bẩn như trên đã từng lan từ Phú Thọ sang Yên Bái, lên Hàm Yên (Tuyên Quang), sang Định Hóa (Thái Nguyên). Nó khiến nhiều chuyên gia tâm huyết với chè đau đớn kết luận: Họ đầu độc chính các thương hiệu chè. Dường như có ai hướng dẫn họ làm bậy. Chè đó có thể được xuất bán sang Trung Quốc. Nhưng chắc chắn, rồi nó lại quay về Việt Nam ta với giá rất rẻ.

Để mục sở thị vấn đề này, chúng tôi đã vào vai dân buôn tại Hà Nội, tiếp xúc với nhiều tay buôn chè nhiều năm. Gia đình họ, nhiều người dân trong toàn xã ấy có nghề “truyền thống” là buôn chè, có “công nghệ” riêng “ướp tẩm” chè để kiếm lời. Họ tiết lộ, trộn mì chính, trộn than đá, chất tạo màu vào chè là quá phổ biến. Họ còn mua máy ép chân không về, đi thuê in bao bì nhãn mác, hình trang trí tuyệt đẹp, cứ ghi bừa mình là sản phẩm chè mang thương hiệu nào đó của Thái Nguyên và cứ thế bán tràn lan. Dân mình thấy hộp đẹp, uống ngọt, thơm, nước chè xanh đẹp, giá mềm, bao bì ghi rõ thương hiệu, mã vạch các thứ (làm giả), nhìn đã… sang trọng quy củ. Thế là mua.

Nguyễn Văn Dĩ, người Phú Thọ, nơi có làng buôn chè đầy tai tiếng, rất lọc lõi. Anh ta nhờ một công ty “để lại” (bán) cho hóa đơn chứng từ khống. Rồi tìm cách xuất chè có hóa đơn đỏ vào các công ty, xí nghiệp, chè phục vụ văn phòng và quà biếu. Giá rẻ bằng nửa thị trường, Dĩ chiết khấu thêm cho người mua đến ba bốn chục phần trăm nữa. Ai cũng thích làm ăn với hắn vì có lợi lớn. Thế là hàng bẩn tuồn vào toàn những chỗ sang trọng. Giá rẻ. Uống ngon miệng, thơm cả phòng, cả nhà, không ngộ độc gì ngay lập tức. Ai chả thích!

Chỉ có điều, vài tháng, vài năm sau, người tiêu dùng vô tội đổ bệnh, thậm chí cả án tử hình ung thư, thì họ vẫn không hề biết thủ phạm là do chè bẩn. Một cái chết từ từ, có thể đến đều đặn hàng giờ, hàng bữa, hàng ngày đầu độc người ta trên diện rộng. Phòng trọ của Dĩ vẫn quy củ, đủ máy móc như một nhà máy với những sản phẩm trứ danh. Chè bẩn còn hoành hành, chừng nào các quy định kiểm soát, kiểm tra, xử lý của chúng ta còn chưa đầy đủ và nhiều khi vẫn bị bỏ ngỏ trận địa như hiện nay.

Dĩ dặn kỹ chúng tôi: “Bây giờ thật giả lẫn lộn. Em là dân buôn, em biết. Anh mà uống trà không rõ nguồn gốc thì cứ “tắm chè” (tráng nước sôi) thật kỹ trước khi uống. Đừng bao giờ ham rẻ. Chè ở nhà hàng để la liệt các hộp để khách tự ý pha cả vốc cả nắm sau khi ăn. Chè ở các quán trà đá vỉa hè mà người bán tìm mọi cách đẩy giá mua chè búp xuống thấp để kiếm lời nhiều hơn. Các địa chỉ trên, rất tiềm ẩn nguy chè bẩn. Với giá một vài triệu đồng một cân chè cao cấp, trong khi giá chè “tắm công nghệ” chỉ vài chục nghìn đồng/kg – giá cả và chất lượng lệch nhau một trời một vực. Dễ gì chè sạch, đắt đỏ lại được người ta để từng hộp cả nửa cân cho khách tự vốc cả nửa lạng vào cái ấm to uống bừa phứa rồi đổ bỏ pha ấm mới ngay tức thì như ở các nhà hàng miễn phí nước chè?!”.

Dĩ nhiên, chúng ta không nên vơ đũa cả nắm nghĩ oan cho người tốt. Nhưng, chè bẩn là câu chuyện có thật, ít ra thì báo chí, dư luận đã bắt tận tay day tận trán được như đã kể ở trên, đó là điều không thể biện minh!

Trần Quân

Bình luận