Nữ sĩ Tây Bắc và chuyến đi thực tế trở về trên võng cáng, đầu không còn sợi tóc

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 1:39 14/10/2020 |

Nếu những “quái kiệt” làm lay động lòng người mà thiếu đi nữ thi sĩ, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đỗ Thị Tấc – đứa con của mẹ núi lớn Tây Bắc – thì quả là một thiếu sót. Bà không chỉ có một sự nghiệp thơ và nghiên cứu văn hóa tương đối đồ sộ, mà phong cách sống và sáng tác của bà còn ám ảnh và truyền cảm hứng tích cực cho rất nhiều người.

Nữ sĩ Đỗ Thị Tấc và chuyến đi thực tế trở về trên võng cáng
Nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Thị Tấc – bìa trái – trong một lần đi cơ sở

Thi sĩ đẻ con trong k‎í túc xá

“Thi sĩ già làng trưởng bản” Đỗ Thị Tấc chữ nghĩa chao chát, nói năng rổn rảng như đàn ông, đến mức nhiều người quen biết gọi bà là “anh Tấc”. Ai biết bà đều quý mến bởi đó là một phụ nữ nội tâm, cô đơn, da diết và có hậu với bạn bè.

Sinh năm 1963, quê gốc Hưng Yên, nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu. Lý lịch và sự “thăng tiến” ấy chẳng có dáng dấp gì gợi đến một người đàn bà sống trong nách núi suốt đời lang bang, mê mải với thơ và văn hóa dân gian cả. Học cùng Trường Báo (nay là Học viện Báo chí và tuyên truyền) với nữ sĩ ấy, tôi vào trường thì nghe tin “Đỗ Thị Tấc sinh con “một mình” trong căn phòng xép của kí túc xá. Cánh trai tân lọc cọc đạp xe xách làn tã lót ra chăm bà chị già. Bố đứa trẻ là ai thì chỉ có người mẹ mới biết. Đỗ Thị Tấc hơn chúng tôi đúng một giáp, nên ngôi thứ xưng hô bao giờ cũng rạch ròi đến lạnh lùng: mày – tao với tất cả lũ sinh viên.

Xởi lởi đến ruột để ngoài da, bà thích sống vô tư lự, nhưng chưa bao giờ thôi trăn trở. Bà tuyên bố: “Mày xem cái giày, cái dép mày đi dưới chân nó còn có số, có cỡ, thì huống gì cái thân, cái đầu mày ở bên trên đôi dép, trên cả đôi chân? Đời có số, cứ sống tử tế khắc được hưởng”. Nói xong những câu nẫu lòng, nữ sĩ của chúng tôi cười tóe loe, mấy cậu học trò trường huyện vừa đỗ đại học cứ tưởng “chị Tấc” nói đùa.

Đồng môn rồi đồng nghiệp, báo chí thơ thẩn, mỗi lần ngược Tây Bắc tôi thường vào thăm Đỗ Thị Tấc. Nhà trên đỉnh đồi, chỉ có bà mẹ già và mấy cây hoa ban. Bà gọi mẹ là “chị gái”. Cụ cười ấm áp rồi lần nào cũng thở dài “mày đi gì mà đi khiếp thế, hả gái?”. Đỗ Thị Tấc dù ồn ào, nhưng, tôi biết, bà không phải là người của đám đông. Có lần tôi thấy Đỗ Thị Tấc cầm dây chun, thồ hai bao xi măng trên chiếc xe máy cà tàng. “Chở gì như buôn lợn thế?” – “Hai bao xi măng về chít lại cái tường nhà” – “Không nhờ thằng nào được à?” – “Tao một thân một mình, có thằng nào đâu, thế còn hỏi?”. Hai mẹ con trong căn nhà vắng. Bà Tấc bảo khách thích ngồi đâu thì ngồi, thích ở lại cả tháng cũng được.

Khách vừa đến hỏi thăm, hàng xóm ai cũng tủm tỉm thương mến “nhà bác phải hỏi “anh Tấc” thì ai cũng biết ngay. Một lần vào bản, có người đàn ông uống rượu cứ ôm bà buồn bã, bà chủ nhà có ý nhắc nhở, rồi bà hì hì bảo: “Em là đàn bà bác ơi”, người kia mới giật mình xin lỗi: “Nhà chị giống đàn ông quá”. Bà Tấc cười vồn vã khi kể lại câu chuyện này, mà không hề mặc cảm. Bởi bà biết, cái xởi lởi của bà là cái xởi lởi của người đàn ông thích “tứ hải giai huynh đệ”.

Nữ sĩ Đỗ Thị Tấc và chuyến đi thực tế trở về trên võng cáng 1
Nữ sĩ Đỗ Thị Tấc

Một võng khiêng camera, một võng khiêng nữ sĩ Đỗ Thị Tấc

Ông cụ thân sinh ra bà vốn là người gác cầu ở cây cầu dây văng lớn nhất miền Bắc: Cầu Hang Tôm (thị xã Lai Châu). Cái hồi thủy điện Sơn La, thủy điện lớn nhất Đông Nam Á sắp được khởi công, bà Tấc đã viết vần thơ đầy hoài niệm về cái thị xã mình đã sinh ra, về cái cây cầu bố mình từng chong đèn đứng gác sắp bị chìm trong biển nước mênh mông: “Tôi đã mở mòn chân cửa núi/ Tôi đã đi bạc tóc cửa người/ Giờ cửa nước tôi không ngăn nổi/ Tuổi thơ ơi, dưới đó cũng sao trời”.

Nước cuồn cuộn, nước dâng cao. Giặc nước sợ hơn giặc lửa. Thị xã quê bà sẽ chìm trong rong rêu thôi. Quê bà trong thơ gồm “dòng (sông) Nậm Na gầy” xương xẩu đá nhô lên; những con dơi hình mặt người khó nhọc dụi cánh xuống bò lùi trên vách đá, những ô cửa nan tre, tường là bùn trộn rơm băm rối đã xanh rì rêu ôn đới… tất cả chìm trong đáy nước. Và tuổi thơ bà bay lên trời cao. Tuổi thơ nhìn xuống, hay tuổi thơ dưới đáy nước nhìn lên, thì tuổi thơ vẫn trông thấy sao trời.

Con đường đến với thơ văn của bà trắc trở. Ngày xưa, nghe bà kể tếu táo thì bà vốn được đào tạo gì đó về sư phạm. Đi dạy vài bữa bỗng có lần ngoài huyện cũ Phong Thổ người ta chơi bóng chuyền. Đỗ Thị Tấc gầy giơ, cao lêu đêu, khỏe như sợi dây chão đi qua. Người ta khuyết mất cái cô chệch khớp tay mới gọi bà vào làm vai đóng thế. Bà chơi băm bổ khiến ai nấy lác mắt. Họ tính kế sung bà vào đội bóng chuyền. Rồi chơi bóng, bên truyền hình huyện thiếu người, bà thử làm, hóa ra giọng rất ấm, viết rất sắc và… leo núi thì như sơn dương. Rồi bà ra đài tỉnh (bấy giờ là tỉnh Lai Châu cũ) được cử về Hà Nội học báo chí với chúng tôi.

Là người rừng, lại luôn tự nhận mình là đứa con của rừng rú, Đỗ Thị Tấc nhìn đời như nhìn ngọn gió của rừng già và bà cũng chính là ngọn gió ấy. Có lẽ chuyến đi dài nhất trong đời bà là chuyến đi vào ngã ba biên giới, nơi giao cắt đường biên giữa ba nước Việt – Trung – Lào. Ngày đó, bà đi bộ ròng rã hơn 2,5 tháng trời! Cho đến khi bà cất bước vào rừng, cả Việt Nam mới chỉ có duy nhất một người làm báo đặt chân được vào cái bản ngã ba biên giới A Pa Chải sau 18 ngày đi bộ.

Còn bà, đi dọc đường biên, đi suốt 2,5 tháng ròng. Đến mỗi đồn biên phòng, bà lại xin một người vác hộ chiếc camera M3000 cũ mèm của Đài PTTH Lai Châu, một người dẫn đường hỗ trợ nữa (bởi nữ phóng viên đi cùng đã kiệt sức quay về sau 2 ngày theo chân “anh Tấc”). Bà thay chiến sĩ biên phòng như nữ tướng ngày xưa thay ngựa trạm. Bà cứ đi ròng, gặp chó sói, gặp khỉ, gặp gấu hoang; ngất dọc đường, bật trào máu cam trên các đỉnh núi cao, gặp những nương thuốc phiện dài hút hết đường chân trời, gặp những bản làng hơn 90% bà con mắc nghiện… Những thước phim bà thu được, nghe nói phải lưu kho ngay vì nó quá thảm khốc.

Bà đã đi qua những bản làng ngập trong mùi thơm khói lan man của thuốc phiện; bà đã đi ngày nọ qua ngày kia mà chưa vượt qua sự mênh mông rợn ngợp của màu hoa đẹp ma quái – hoa anh túc. Nghe nói, người ta chẳng ưa gì người đàn bà rắn rỏi đi vạch sự đói nghèo của địa phương ra. Nhưng, tôi biết, cái quan trọng hơn là Đỗ Thị Tấc đã đi tìm mình, ít nhiều bà đã tìm được mình. Sự kiện làm cánh viết báo chúng tôi kính nể ấy diễn ra cũng đã già hai thập kỷ. Bấy giờ, cái giá bà phải trả hơi đắt: Bị kỷ luật với cái cớ đi công tác quá số ngày trong công lệnh (đi rừng là giời tính chứ công lệnh nào tính được?). Và, bản thân bà thì tàn tạ đến mức nhiều người ác độc bảo, bà bị quỷ ám, bà đã phạm điều gì đó ở nơi rừng thiêng nước độc ấy. Rồi ma tà làm bà xuống sức.

Bà trở về trên cáng võng của mấy anh em biên phòng vì sốt rét ác tính. Một võng khiêng camera, một võng khiêng thi sĩ Đỗ Thị Tấc. Thời gian sau, tóc bà rụng dần, rụng dần. Đầu bà đỏ hon hỏn – theo lời bà, nó đỏ như da lợn con. Lúc nào bà cũng sùm sụp cái mũ chờ tóc mọc. Nghe đồn mỗi lúc nhớ đến làn tóc mây của mình, Đỗ Thị Tấc vẫn ngồi trước gương, dùng bàn tay xương xẩu xoa xoa lên làn da đỏ như da lợn đại bạch sơ sinh ấy mà chép miệng tiếc rẻ. “Cái giống rụng tóc do sốt rét nó lâu mọc gấp mười lần cạo trọc đầu mày ạ” – lúc tóc lơ phơ mọc trên da đầu đỏ rồi, Đỗ Thị Tấc ngồi rít thuốc lào roen roét tâm sự với tôi.

Bài và ảnh: Trần Quân

Bình luận

Bạn có thể quan tâm