fbpx

Tết ta dưới góc nhìn pháp lý và giá trị di sản

Đăng lúc: 8:10 25/02/2019 -

Đề xuất bỏ Tết ta, nhập vô Tết Tây đã qua 13 năm tranh luận từ khi Giáo sư nông học Võ Tòng Xuân nêu ý kiến đầu tiên vào năm 2006. Đến nay, người đề xuất “gộp Tết” vẫn bảo lưu ý kiến và vẫn còn nhiều tranh luận trái chiều. Đa số phản đối việc bỏ Tết ta vì cho rằng đó là Tết cổ truyền, là hồn cốt của văn hóa nghìn năm. Nhưng người đề xuất “gộp Tết” cũng có lý khi nhìn dưới góc độ kinh tế và hội nhập, để tránh “lệch pha” thời gian nghỉ ngơi, vui Tết, cơ hội làm ăn khi phần đông các quốc gia có chung ngày Tết dương lịch. Minh chứng là Nhật Bản, từ thời Minh Trị Thiên Hoàng Meiji năm 1868, nước này đã chuyển từ phong tục ăn Tết theo âm lịch sang dương lịch như các nước phương Tây, nhưng vẫn không mất đi bản sắc văn hoá, truyền thống và là một quốc gia phát triển hàng đầu. Người viết bài này không tranh luận việc giữ hay bỏ Tết ta mà chỉ muốn nhìn vấn đề dưới góc nhìn pháp lý và giá trị di sản.

Tết ta dưới góc nhìn văn hóa, dân tộc

Tết ta hay Tết Nguyên Đán, Tết cổ truyền là dịp mừng năm mới được tính theo âm lịch, trùng với lễ đầu năm diễn ra tại các quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ. Từ lâu Tết đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, truyền thống của đa số người Việt, mang đầy đủ yếu tố của một di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời cũng chứa đựng các giá trị “văn hóa vật thể” gắn liền ngày Tết như tục gói bánh tét mà cái tên của loại bánh này được lý giải là cách gọi chệch ra từ Tết. “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” là các vật thể biểu thị giá phi vật thể “Tết ta”. Khác biệt văn hóa tạo nên sự đa dạng bản sắc của các dân tộc thông qua biểu hiện “ăn Tết, chơi Tết, vui Tết”.

Trong các tranh luận, dù đồng tình hay phản đối việc bỏ Tết ta, thừa nhận mặt tích cực hay phê phán các biểu hiện tiêu cực trong các phong tục ngày Tết thì các ý kiến đều thừa nhận đó là một tập quán, sinh hoạt văn hoá ngàn đời, phản ánh bản sắc dân tộc Kinh, tộc người chiếm hơn 86% dân số nước ta và cộng đồng người Hoa ở Việt Nam chiếm khoảng 1% dân số cũng mừng năm mới cùng thời gian. Tương tự như vậy, các dịp Tết cổ truyền của các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc anh em cùng sinh sống đất nước Việt Nam cũng biểu hiện nét văn hóa, truyền thống cần được tôn trọng, giữ gìn, phát huy tính tích cực và hạn chế các tập quán tiêu cực.

Tết cổ truyền là nét văn hóa của cả dân tộc

Trong thực tế, không có ngày Tết cổ truyền dân tộc chung cho 54 dân tộc anh em. Các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam có những dịp mừng năm mới khác nhau. Người Khmer Nam Bộ ăn Tết Chol Chnam Thmây (lễ năm mới) vào khoảng tháng 4 dương lịch, không cố định ngày hàng năm mà xê lịch ngày do được tính theo Phật lịch, trùng với Tết của các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, Sri Lanka. Người Chăm Nam Bộ và miền Trung mừng năm mới dịp lễ hội Rija Nagar, cũng vào khoảng tháng 4 dương lịch. Người H’mông lại mừng năm mới vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12. Chính vì vậy mà mới đây, một văn bản của xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thông báo cho các phòng, ban của tỉnh, huyện và các ban, ngành, đoàn thể biết việc 4 xã Lóng Luông, Vân Hồ, Pà Cò, Hang Kia chuyển ăn Tết cổ truyền của người Mông sang ăn Tết Nguyên Đán. Chưa bàn đến “thẩm quyền hành chính”, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa cấp trên đã không đồng thuận việc “gộp Tết” này.

Tết dưới góc nhìn pháp lý

Tại họp phiên thứ 32 ở Paris từ 29/9 đến 17/10/2003, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã thông qua Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Điều 2 Công ước định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”. Tết ta cần được xem là một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ.

Điều 5 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Nước CHXHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam… Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Điều 60 cũng quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài với tư cách công dân có quốc tịch Việt Nam được xác định là đồng chủ thể chủ quyền quốc gia và chủ sở hữu các di sản văn hóa.

Cụ thể Hiến pháp, Luật Di sản văn hóa năm 2013, tại Điều 4 quy định: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Điều 115 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định “người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương” trong những ngày Tết gồm Tết theo dương lịch vào ngày 01 tháng 01 và nghỉ “Tết Âm lịch 5 ngày”.

Bánh chưng, món ăn đặc trưng ngày Tết truyền thống

Tết ta – một di sản văn hóa phi vật thể. Tại sao không?

Đến năm 2018, cả nước có 248 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, bao gồm 93 lễ hội truyền thống, 60 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian, 59 di sản tập quán xã hội và tín ngưỡng, 23 di sản nghề thủ công truyền thống, 5 di sản tri thức dân gian, 5 di sản tiếng nói, chữ viết và 4 di sản ngữ văn dân gian. Chưa tìm thấy bất kỳ loại hình Tết cổ truyền nào trong số 54 dân tộc anh em ở Việt Nam được công nhận là “di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia”.

Theo quy định tại Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa thì tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là: Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương; phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ; có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài và được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ.Và tiêu chí để đề nghị UNESCO đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại phải là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Có thể có ý kiến cho rằng, Tết ta có những yếu tố đồng nhất với Tết của người Hoa, người Triều Tiên, Hàn Quốc, Singapore. Nhưng xét trên các phương diện pháp lý, lẫn văn hóa, truyền thống, dân tộc, Tết của người Việt chứa đựng đầy đủ các yếu tố riêng biệt cần được lập hồ sơ xét công nhận là một di sản phi vật thể cấp quốc gia, làm điều kiện đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại để được bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp của nó, loại bỏ các tập quán ăn Tết hoang phí. Loại bỏ các yếu tố tiêu cực, Tết ta mang trong mình những giá trị đặc biệt về lịch sử,văn hóa, khoa học, có phạm vi và mức độ ảnh hưởng mang tính quốc gia, phản ánh nguồn gốc và vai trò của di sản văn hóa phi vật thể đối với cộng đồngtrong quá khứ và hiện tại, thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo và là cơ sở cho sự sáng tạo nhữnggiá trị văn hóa mới. Tết ta – một di sản văn hóa phi vật thể, tại sao không!

TS.Trần Hữu Hiệp

Tags:

Bình luận