fbpx

Vị đại tá chuyên đi tìm hài cốt liệt sĩ và những tiết lộ về các nhà ngoại cảm rởm (kỳ cuối)

Đăng lúc: 2:59 17/01/2019 -

Kỳ cuối: Một “Tà Hai” khả kính trên đất Campuchia

Bà mẹ trẻ sinh con ngay sau trận càn thảm khốc

Ông Huỳnh Trí tinh tường, vâm váp ở tuổi 70. Ông chưa chịu nghỉ ngơi dưỡng già bởi ông chưa bao giờ quên được những ngày tháng nếm mật nằm gai bên đất Campuchia, chưa bao giờ thôi có cảm giác mắc nợ với những đồng đội đã ngã xuống và gần nửa thế kỷ qua vẫn nằm cô quạnh chờ được quy tập. Ông cũng chưa bao giờ thôi mang ơn người xứ Chùa Tháp đã cưu mang mình cùng nhiều chiến binh làm nghĩa vụ quốc tế ở chiến trường khốc liệt ấy.

Chúng tôi chỉ biết đến Anh hùng, Đại tá Huỳnh Trí khi tiếp xúc với một người… Campuchia. Cậu bé ngoài 20 tuổi, học ở Đại học An Giang, lúc nào cũng đau đáu hỏi về một “Tà Hai” người Việt. Theo người Campuchia, Tà Hai là một khái niệm chỉ người có đóng góp đặc biệt cho cộng đồng, được mọi người tôn kính. Qua nhiều mối dò hỏi, cậu sinh viên Campuchia khẳng định Tà Hai đó là ông Huỳnh Trí. Ông Trí cùng đồng đội đã cứu được nhiều người trong cuộc chiến thảm khốc của bà con Campuchia chống lại đội quân tàn ác của Pôn Pốt. Sau một trận càn tàn ác, chỉ có một mình bà mẹ trẻ còn sống sót với cái bụng lùm lùm và đứa con chuẩn bị chào đời. Bộ đội đã đến, đỡ đẻ, diệt trừ sự mê muội trong niềm tin tà ma cúng bái. Anh lính trẻ bế đứa bé sơ sinh, đem khẩu phần thức ăn trong ba lô hành quân của mình ra chia cho mẹ cháu. Sau này lớn lên, “cậu bé” sống sót sau trận càn đã lấy vợ, có con và sang Đại học An Giang quyết tâm tu nghiệp thành tài.

Đại tá Huỳnh Trí lúc nào cũng dạt dào cảm xúc, kể cả những ám ảnh thổn thức về miền đất ông đã chiến đấu, chiến thắng kẻ thù và gần 20 năm qua liên tục trở lại, ăn rừng ngủ lán tìm hài cốt đồng đội, tiếp tục giúp đỡ bà con.

Đại tá Huỳnh Trí được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân

Tìm người thân cho những người em nuôi

Ông Huỳnh Trí kể: “Trong quá trình đi tìm mộ liệt sỹ, thông tin lấy từ bà con bản địa thì cũng phải lưu ý. Họ nói, hồi đó chôn cất chỗ này nhưng có khi tìm mãi không ra, cũng có khi chỉ đào một lúc là tìm được di vật. Tôi nghe được ít nhiều tiếng nói của bà con Campuchia. Ví dụ có một phụ nữ già nói rằng, hồi đó chôn ông bộ đội ở đây này, có một cái chén nhỏ bằng sành, thêm một cái chén lớn để ở đầu mộ đó. Tôi giật mình, bát ấy là bát B52 của bộ đội ta rồi. Có ông già kể về cái gò mối chôn quân tình nguyện Việt Nam, tôi đào tới 5 cái gò mối mà “các anh” vẫn bặt vô âm tín. Đến lúc đào cả tuần lễ mới tìm được bộ hài cốt đó. Lúc đào được, cái bát B52 đã hỏng và nằm xuống phía dưới của bộ hài cốt.

Tìm được hài cốt rồi, mới phải đi tìm hồ sơ để thông báo cho thân nhân gia đình người ta. Tìm được di cốt đã vui một, khi di cốt đồng đội trở về với người thân của họ thì vui gấp nhiều lần. Có đợt, đội chúng tôi đem hài cốt ra đến Hà Nội làm công tác bàn giao luôn. Nhiều đồng đội chiến đấu với tôi, máu của họ chảy khi tôi ôm họ cấp cứu, nhiều người hy sinh anh dũng. Giờ quay lại mọi thứ thay đổi, tìm mãi mà chưa tài nào thấy được.

Trong quá trình chiến đấu ở Campuchia, tôi có hai người em kết nghĩa đều đã hy sinh anh dũng. Chiến tranh kết thúc, tôi luôn muốn đi tìm mộ hay đi tìm thân nhân cho các em ấy. Tôi đã quy tập hài cốt các em ấy mang về nghĩa trang liệt sỹ trên địa bàn An Giang.

Hai người em kết nghĩa này đều ở Campuchia hết. Năm 1970 chúng tôi đánh giặc, tiến quân đến tỉnh Tà Keo của Campuchia thì gặp Lý. Gia đình Lý ở Phnom Pênh, chỗ ấy loạn lạc nên Lý không về được vì Pôn Pốt cho quân phong tỏa hết rồi. Sau đó, Lý đi làm cách mạng cùng chúng tôi. Gia đình Lý không biết nó đi theo chúng tôi. Sau vài năm, cậu ta đi học y tá rồi hoạt động rất tích cực và hy sinh năm 1972. Một cậu khác tên là Tum. Người cô của Tum gửi Tum nhờ chúng tôi nuôi hộ. Chúng tôi đào tạo cho nó chạy liên lạc. Sau khi nó lớn, nó đi làm tờ lý lịch trích ngang, gọi là có hồ sơ giấy tờ. Nó không biết họ của mình là gì, lại mới chỉ có 14 tuổi. Nó lấy họ Huỳnh của tôi gắn vô. Nó hy sinh trước hòa bình có 16 ngày, hôm đó là 14/4/1975 – một ngày mà tôi không thể nào quên. Sau này, tôi đi tìm mộ nó và cất bốc đưa về nghĩa trang ở An Giang. Bao năm nay ngoài tôi ra, không thấy người nào thăm viếng. Tôi muốn tìm thân nhân cho nó.

Tháng trước, tôi đã gửi thư về chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của VTV, nhờ nhà báo Thu Uyên và ê-kíp tiếp sức tìm giùm”.

Dù trên cơ thể có nhiều vết thương, Đại tá Huỳnh Trí vẫn lặn lội tìm hài cốt liệt sỹ

Trong vườn của vị tướng Quân đội Hoàng gia

Theo đại tá Huỳnh Trí, ước tính ở Campuchia có đến 15 – 20 ngàn hài cốt bộ đội Việt Nam. Các đội quy tập của quân khu 9 có 4 đội, bình quân mỗi đội quy tập được 2,5 ngàn hài cốt. Như vậy, số hài cốt chưa quy tập được vẫn còn nhiều lắm.

Đại tá Huỳnh Trí có giọng nói cứ nhẹ như không, dáng ông thon gọn uyển chuyển khiến ít ai nghĩ ông đã bước sang tuổi 70, một bên tai điếc hẳn, bên kia không còn lành nữa. Ông là thương binh với tỷ lệ thương tật 49%, vết thương đầy người và không cần trái gió trở trời vẫn nhức buốt. Quá trình tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ đa phần ở nơi rừng thiêng nước độc, dù tuổi cao sức yếu nhưng ông vẫn không từ nan. Có lần, ông Trí nghe tin hai đồng đội hy sinh ở vùng tỉnh Kandal, Vương quốc Campuchia đã mất phần mộ. Khu vực chôn cất hai người này giờ là một nhà máy xay của người Hoa. Ông Trí phải thương thảo mãi, họ mới cho đào và đào xong phải lấp lại, xây dựng bù cho họ cả nhà máy cưa như cũ. Vô cùng kỳ công và tốn kém.

“Quá nhiều khó khăn, tôi cũng muốn bỏ cuộc. Nhưng cứ ngẫm cha mẹ vợ con các đồng chí ấy còn cạn nước mắt ngóng trông, thì tôi không thấy gì là khó khăn nữa”, ông nói. Ông đã vừa khóc vừa bạt núi băng rừng tìm hài cốt. Đó là lý do mà suốt nhiều năm liền, tại các tỉnh Takeo, Kandal, Kampot, Kampong Speu, Koh Kong (Vương quốc Campuchia)… đều đặn in dấu chân của “vị đại tá về hưu” đi tìm mộ liệt sĩ, với tư cách là người “cố vấn” cho Đội Chuyên trách K93 An Giang.

Đại tá Phạm Quang Trung, đội trưởng K93, người sát cánh cùng ông Huỳnh Trí nhiều năm, đánh giá ông Trí am hiểu địa hình địa vật, có Tâm với mọi người. Ông có thể suy đoán, phân tích để tìm ra di cốt đồng đội. Điều này là hết sức quan trọng, vì chiến trường quá rộng, hơn 40 năm từ cuộc kháng Mỹ, đấy là chưa kể từ hồi chống Pháp quá sức xa xôi, xương cốt người ngã xuống bị tình trạng “thế gian biến cải vũng nên đồi” làm cho thay đổi quá nhều.

Trong một lán dã chiến, phủ đệm cao su, cột chống, bàn ghế giường đều ghép từ gỗ rừng tạm bợ, ông Hai Trí và đồng đội nấu cơm ăn. Bên bìa rừng có ly trà cũ kĩ, bác cháu chia nhau. Họ mượn tạm khu vườn của một vị tướng thuộc Lữ đoàn 21, Quân đội Hoàng gia Campuchia để làm “chỉ huy sở” đi đào tìm, cất bốc hài cốt liệt sỹ bộ đội Việt Nam qua các thời kỳ. Ông Hai Trí luôn nhắc anh em rằng trong chiến tranh, bộ đội Cụ Hồ cứu dân, nuôi dân, xẻ từng miếng lương khô cho bà con sống sót trong đói khát. Bà con gọi bộ đội tình nguyện Việt Nam là “đội quân của Đức Phật”. Vì vậy, khi đi đào tìm hài cốt, cũng phải luôn noi gương, dân vận tốt, chân thành giúp bà con, lắng nghe để bà con chỉ cho từng khu vực có mai táng đồng đội của mình.

Núi rừng Kompong Speu mênh mông tĩnh lặng, đỉnh Kirirom vời vợi u tịch. Bà con xứ Chùa Tháp tưng bừng đón đoàn chiến binh của Đức Phật đi làm điều tử tế. Tử tế với người đang sống và tử tế với những đồng đội đã khuất núi của mình. Linh hồn của đội ngũ ấy là “Tà Hai” Huỳnh Trí.

Trần Quân

Bình luận