Làng “ngâm nước” cả tháng, người chết sau 5 ngày mới chôn

Bão số 13 làm 4.489 ngôi nhà ở Huế tốc mái, giật đứt dây neo, nhấn chìm tàu. Gió bão như gã khổng lồ hung hãn nhổ tung những gốc cây cổ thụ. Sau bão, các xã nằm dọc sông Bồ, sông Hương vẫn mênh mông nước.

Nhiều làng ở Huế “ngâm nước” cả tháng, người chết sau 5 ngày mới chôn 1
Hình ảnh thường thấy ở Huế trong hơn 1 tháng qua

Đã quen, mà lần này thấy quen không nổi

Thời tiết xấu, máy bay phải hạ độ cao nhiều hơn thường lệ trước khi đáp xuống sân bay Phú Bài, Huế. Từ máy bay, thấy rõ làng mạc hầu như đã không tỏ ngõ xóm, đường làng – suốt từ huyện Phú Vang kéo lên thị xã Hương Trà. Cậu lái xe taxi đón chúng tôi từ sân bay, rẽ vào con đường nhỏ, khấp khểnh. Chàng trai Huế ái ngại: “Đường ni xấu nhưng không ướt. Chớ đi đường chính là xe tui không qua nổi”. Sông Hương nước lớn, đục ngầu. Hạ du sông Bồ thì những ngày qua, nước đã vượt cả đỉnh lũ lịch sử năm 1999.

Xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền nằm ven Quốc lộ 1A, giáp ranh với phường Tứ Hạ của thị xã Hương Trà là một trong những vùng ngập nặng nhất trong trận lụt đầu tiên. Từ đầu tháng Mười đến nay, rất nhiều thôn của Quảng Phú đã và vẫn đang bị chia cắt hoàn toàn. Để vào được các thôn Xuân Tùy, Nho Lâm, Bát Vọng Đông, Đông Nam, nếu không có “thổ địa” sắp xếp thì chỉ còn cách đứng ở thôn Hạ Lang, chờ xem có đoàn cứu trợ nào thì xin ngồi nhờ lên thuyền, vượt qua cánh đồng (nay là biển nước) mênh mông của thôn Bao La thôi.

Ngôi nhà nhỏ, thấp, mái lợp phi-brô xi-măng của gia đình ông Lê Văn Cư đã “ngâm nước” hơn một tháng nay. Vết bùn non chưa sạch còn trăng trắng trên cánh cửa tôn, cái vạch bùn “đánh dấu” nước lụt ấy cao đến ngang ngực người đàn ông to lớn. Trong nhà cũng chẳng khác ngoài sân, ngoài đường – chỗ nào cũng đầy nước. Bốn chân giường kê thêm mấy viên gạch, con dâu ông Cư ngồi ôm cô con gái mới vài tháng tuổi. Hai mẹ con chỉ biết ôm nhau ngồi trên giường. Bà mẹ trẻ chẳng dám rời con nửa bướcvì nước trong nhà vẫn cao ngang đầu gối thế kia.

Nhiều nơi ở Huế, bà con chỉ có thể di chuyển bằng thuyền

Dọc các ngõ, ngoài đường thôn, thuyền nan của bà con hẹp, mảnh như chiếc lá tre trở thành phương tiện chính. Những nụ cười vẫn nở hồn hậu giữa nước lụt, dẫu mái chèo kia đã hiển hiện đầy sự nhẫn nại và bình thản đến… cam chịu. “Sinh ra, lớn lên ở vùng lũ, riết rồi quen chớ biết sao. Nhưng năm ni lụt liên hồi, cả tháng tường nhà ngâm trong nước, hết quen nổi” – ông Cư nói như thở hắt, mắt trân trân nhìn bốn bức tường gạch ba banh đang dần bở ra mà không biết phải làm thế nào.

Bên kia sông Bồ, xã Hương Toàn (thị xã Hương Trà) cũng đang phải trải qua những ngày quắt quay rốn lũ. Trước hôm bão số 13 đổ bộ, nước sông Bồ đã vượt báo động 3. Nước tràn qua đường làng Hương Cần. Trời đổ mưa cả tuần, nhiệt độ thấp, ép cái bệnh mãn tính của cụ Trần Thị Thoa. Chịu không nổi, các con hối thúc mãi cụ mới để hai ông con trai “kèm” cụ lòng còng bước xuống thuyền gỗ, vượt sóng nước ra đường lớn vẫy xe xuôi thành phố Huế khám bệnh. Mấy mẹ con cụ không thể nhớ nổi đây là trận lụt thứ mấy mà Thừa Thiên – Huế phải gánh chịu trong hơn một tháng qua.

Ông Quang ghé tai chúng tôi nói nhỏ, sợ bà cụ nghe thấy sẽ thêm rầu, thêm bệnh: “Bà con đã thực sự kiệt sức vì bão lũ rồi”. Giữa sóng nước, giọng ông Quangbị tiếng gió ù ù xé vụn, càng thêm phần thê thiết: “Chỉ sợ “Ông tha mà bà chẳng tha/ Trời hành cơn lụt hăm ba tháng mười” (người dân miền Trung đúc kết kinh nghiệm, sau 23/10 âm lịch hằng năm là sẽ hết lũ lụt, nhưng thực tế thỉnh thoảng quy luật này đã bị thiên tai pha vỡ)”.

Trên đường làng như lún xuống trước dòng nước lớn, năm người đàn ông hò nhau khênh cái xe vừa chết máy của chị Trần Thị Na xuống thuyền để chở cả người và xe vào trong xóm. Lụt, nhưng chị Na vẫn phải lội nước, đội mưa chạy chợ. Cái giỏ xanh chằng sau xe có mấy bó rau, vài lạng thịt và túi đậu phộng. “Lụt cả tháng, không buôn bán lại là cả nhà đói nên vẫn phải đi”, chị Na cười, nụ cười của người đàn bà vùng lũ chịu thương chịu khó đến buốt lòng.

Nhiều làng ở Huế “ngâm nước” cả tháng, người chết sau 5 ngày mới chôn 2
Nhiều nơi ở Huế, bà con chỉ có thể di chuyển bằng thuyền

3km, đi cả máy kéo, công nông mới… đến được nhà

Nhà ông Nguyễn Văn Minh nằm ven đường Quốc lộ 49, thuộc xã Phú Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Cả tháng lụt, cái xe đầu ngang của ông thôi chở vật liệu, nhưng nó lại được tận dụng để làm việc khác: Đưa cả người và xe từ cầu Km0 thị trấn Thuận An vượt nước lũ chảy ràn rạt trên Quốc lộ 49 lên xã Hương Phong. Ông Minh chỉ là một trong hàng chục phương tiện (từ xe đầu ngang, xe tải nhỏ đến xe máy kéo, công nông) thường trực ở bùng binh cầu Km0 để phục vụ nhu cầu đi lại của bà con. Một ngày ông chạy 8 lượt, 4 lượt chở người và xe máy từ Km0 vào xã Hương Phong và ngược lại.

Chúng tôi đẩy xe máy lên chiếc đầu ngang của ông Minh, mấy cậu thanh niên vừa nói vừa ra hiệu trong tiếng gió bập bùng: “100 ngàn, cả xe và hai người”. Còn chưa kịp dứt suy nghĩ tiểu nông “sao mà đắt thế”, thì chúng tôi đã gần như ngay lập tức xóa đi câu hỏi ấy. Bởi càng đi, nước càng chảy xiết, lắm lúc sóng vỗ ì oạp không khác nào sóng biển. Đứng trên thùng xe, gió càng rít mạnh, những bụi lau ven đường cũng đang gắng hết sức mình để không đổ rạp trong gió lớn. Hai bên đường chỉ toàn là nước, cảm giác nước đang muốn vùi cả những chòm xóm phía xa xa. Ngay bên đường, có túp lều nước đã dềnh lên mái lá. Anh Tý, nhà ở thôn Vân Quật Đông (xã Hương Phong) bảo: “Từ tháng Mười tới giờ, ở đây nước dâng 4-5 lượt rồi. Những lần trước mưa lớn lắm, lần này mưa nhỏ thôi, nhưng thủy điện xả lũ để đón bão nên nước cứ chảy miết”.

Sóng nước, gió, mưa táp vào mặt, ba người trên chiếc thuyền nan duy nhất đang chậm chạp hướng về phía làng. Bà cụ Điểm khoác áo tơi, cầm mái chèo bước xuống con đường lớn đầu làng Vân Quật Đông. Chúng tôi hỏi nước mênh mông ngập thế này, cụ đi đâu. Đôi chân nhăn nheo vì ngâm nước của cụ dừng lại: “Tui đi đám bên thôn Thuận Hòa B. Mụ Dinh bên nớ mất hồi sáng”. Lại hỏi: “Nước trắng đồng thế này, thì việc chôn cất của cụ Dinh ra sao?”. Bà cụ Điểm vừa bước từng bước nằng nặng trong cuối chiều nhá nhem mưa gió vừa trả lời: “Năm bữa nữa mới đem chôn”.

Nhiều làng ở Huế “ngâm nước” cả tháng, người chết sau 5 ngày mới chôn
Người dân đi đám tang ngày lũ

Sớm hôm sau, chúng tôi lại chạy từ thành phố Huế đến cầu Km0 để vào thôn Thuận Hòa B. Lần này, chiếc xe máy kéo đỏ rói, đôi bánh xe cao, lớn bậm bạch vượt lũ, nhưng lại có vẻ chắc chắn hơn là đứng trên xe đầu ngang hôm trước. Qua cầu Thảo Long một đoạn, Quốc lộ 49 có quãng khô ráo, nhưng đường vào thôn Thuận Hòa B vẫn là nước tứ bề. Chúng tôi từ trên xe máy kéo xuống, mấy người trên xe nói lớn với cậu chạy xe công nông đậu ở đầu lối vào thôn: “Chở mấy chú ni đến nhà ông Đáp bà Hồng nha”.

Hải- cậu thanh niên chạy xe ba gác cười phất phơ kiểu thanh niên mới lớn: “Tui chở tới tận… ngõ”. Hải cứ chạy, mà chúng tôi đứng trên không thấy nổi đường làng. Trong các ngõ nhỏ vài người bì bõm lội, còn đa số đứng trước hiên nhà ngóng ra cánh đồng trắng xóa trước mặt. Trường mầm non ở nơi cao nhất, mà nhìn vẫn lem nhem, tan hoang khi nước đã rút bớt đi.

Ông Đáp, bà Hồng – đôi vợ chồng già đã ngoài bảy chục tuổi mà vẫn nuôi gia cầm, thủy sản như bất cứ lao động thanh niên hay trung niên nào của thôn. Ông Đáp thở dài: “Gà biết chạy chỗ cao, vịt thì nước lên cao mấy cũng bơi được, nhưng tôm, cua nuôi ngoài ao thì… mất hết. Cả lưới lót phía dưới lẫn lưới căng trên bờ đều đã bị lũ cuốn đi”.Bà Hồng lọng khọng, bé nhỏ nói: “So với lũ năm 1999, đợt ni còn 5 tấc (50cm) nữa mới bằng. Năm nớ nước lên tới mép giường tui mà, nhưng nước rút nhanh chớ không kéo dài như đợt ni”.

Rồi bà Hồng tính với ông Đáp, sang tháng nước rút, đám ruộng bên kia sẽ sạ giống lúa gì. Bà bảo: “Được cái nước lụt mang phù sa về mấy đám ruộng. Sống cả đời ở vùng lụt, thì phải thích nghi rồi nhìn về phía trước – sau khi hết lụt, chớ biết mần răng”. Nhìn đôi vợ chồng già quần xắn móng lợn đi lùa lại đàn vịt, chúng tôi chạnh lòng. Có lẽ ông bà và dải đất miền Trung sẽ cơ cực hơn để thích nghi được với những dữ dằn gia tăng của lũ lụt.

          Bài và ảnh: Quân Anh, Trọng Dũng

Bình luận

Bạn có thể quan tâm