Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Độc quyền sách giáo khoa, cả nước khốn khổ

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 3:47 02/10/2018 |

Ở Việt Nam, từ thời khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay đã nhiều lần biên soạn sách giáo khoa, một thời sách giáo khoa miền Bắc thì học sinh miền Bắc học, sách giáo khoa miền Nam thì học sinh miền Nam học; rồi sách giáo khoa ở vùng giải phóng tồn tại cùng với sách giáo khoa vùng tạm chiếm. Sách giáo khoa ám mùi thuốc nổ. Sách giáo khoa cháy nhọ nhem, cháy rừng rực cùng số phận con người trong chiến tranh. Thuở nhỏ, tôi đã từng hồi hộp xem một bộ phim về hành trình của một chiếc xe tải vượt qua mọi bom đạn ác liệt, hi sinh, người ta nỗ lực bằng mọi cách để cứu xe khỏi bị bom, khỏi bị cháy. Và cuối cùng, xe nguyên vẹn, mở thùng xe tải ra thì hàng hóa là… toàn sách giáo khoa chở từ miền Bắc vào vùng giải phóng ở miền Nam. Rất nhân văn! Cùng một đất nước chia cắt, sách giáo khoa cũng… cắt chia.

Bây giờ ngoài sách giáo khoa đại trà (chương trình 2000), còn có sách thí điểm VNEN, sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục. Nếu ai đó cất công viết một tiểu luận “Lịch sử sách giáo khoa Việt Nam” đọc cũng sẽ rất thú vị. Thế nhưng, có một điều nếu cắt nghĩa sẽ không trọn vẹn là: Thời trước chiến tranh chia cắt đất nước, sách giáo khoa của miền nào, miền ấy dùng, mà chẳng thấy người ta bàn tán, bình luận, khen chê, góp ý kiến cho sách giáo khoa đến mức thành “phong trào”, ai cũng có thể bàn về sách giáo khoa như hiện nay?

Có thể nói tình trạng độc quyền sách giáo khoa – độc quyền biên soạn, độc quyền xuất bản, độc quyền phát hành – đang là mối quan tâm lớn nhất hiện nay. Điều dư luận quan tâm và không yên tâm hiện nay là chất lượng sách giáo khoa. Chủ trương một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa, để học sinh tự chọn, để khắc phục tình trạng độc quyền đang là mong muốn, khát vọng của nhiều người. Thực ra, và nói cho công bằng: hiện nay, ngoài sách giáo dục phổ thông đại trà (chương trình năm 2000), còn tồn tại bộ sách thí điểm VNEN và sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục. Cả ba bộ sách đều có những vấn đề bất cập khiến phụ huynh và dư luận xã hội lo lắng.

Sách giáo dục phổ thông chương trình năm 2000 thì biên soạn nhiều kiến thức quá, học sinh phải học nhiều thứ. Nặng nề. Cồng kềnh. Hàng ngày các trò nhỏ đeo kính cận, còng lưng khoác ba lô sách đến trường là một hình ảnh in dấu và ám ảnh trong đầu óc nhiều người lớn đã và đang qua thời phụ huynh. Sau đó, Bộ Giáo dục & Đào tạo phải nhiều lần điều chỉnh, giảm tải, cắt một số chương trình quá sức, quá nặng cho học trò các cấp. Cải cách chữ viết từ chữ liền mạch sang bỏ các đường cong mềm mại thành chữ như con giun, như con bọ gậy hết sức phản cảm. Thứ chữ viết ấy vừa vô mỹ học vừa gây khó khăn cho trẻ nhỏ viết hết chữ này phải nhấc bút lên viết chữ kia. Cuối cùng, lại quay về kiểu viết chữ truyền thống có hàng trăm năm, đã được chọn lọc đến mức gần như hoàn hảo, tinh tế. Mèo vẫn hoàn mèo là như thế.

Sách thí điểm VNEN biên soạn theo chương trình được nhập khẩu từ nước Columbia có vẻ như không hợp với “thổ nhưỡng” giáo dục Việt Nam. Một lớp học VNEN chỉ khoảng 20 học sinh, nhưng thử hỏi nước Việt Nam ta có mấy nơi đáp ứng được yêu cầu này? Phổ biến hiện nay là lớp học 40, thậm chí có nơi lớp học tới 60 học sinh. Dân nước ta còn nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi phải chịu thêm gánh nặng tiền bạc mua sách, đồ dùng dạy và học, công cụ cho cái gọi là Hội đồng tự quản. Học sinh lớp 1, lớp 2 nước ta ăn chưa no lo chưa tới sẽ làm nổi việc gì khi tự quản phải nhận xét, đánh giá, báo cáo như một giáo viên?

Các em học theo nhóm, kê bàn quay mặt vào nhau, khi cô giáo giảng bài, khi một bạn lên bảng trình bày thì tất cả phải quay đầu 90 độ để nhìn. Việc này sẽ dẫn đến tình trạng lệch cột sống hoặc vẹo cổ, mà các bé 6, 7 tuổi là nạn nhân đầu tiên. Chất lượng giáo viên yếu, lại sống trong thời kinh tế thị trường cũng lắm điều bất cập và không theo kịp mô hình trường VNEN, nhiều cô giáo tỏ ra lúng túng và không đủ năng lực, kiến thức, phương pháp để dạy theo cách mô hình trường VNEN nhập khẩu. Cô giáo còn thế, huống hồ là các học trò vắt mũi chưa sạch làm Chủ tịch Hội đồng tự quản… “Sau 6 năm mô hình Trường học mới Việt Nam (VNEN) được triển khai tại 4.393 trường tiểu học (tỉ lệ 29,2%) với 1.542.863 học sinh (tỉ lệ 19,8%)”. Một tỷ lệ không hề nhỏ.

Về chất lượng và sách giáo khoa mô hình này đã bị dư luận xã hội kêu ca quá nhiều. Tỉnh Hà Giang, Hải Phòng và Hà Tĩnh đã nói không với VNEN. Ở Nghệ An, tinh thần đấu tranh thoát khỏi mô hình VNEN rất sục sôi. Ở Trường trung học cơ sở Hưng Dũng thành phố Vinh, có gần 300 phụ huynh tuyên bố: Nếu không dừng VNEN sẽ cho con em nghỉ học. Ngày 12/9/2017, nguyện vọng của họ mới trở thành hiện thực và học sinh được thoát khỏi mô hình này, sau nhiều năm toát mồ hôi và hoang mang. Năm học 2017 – 2018, công văn về mô hình này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Phùng Xuân Nhạ cũng khẳng định “trên tinh thần tự nguyện”. Nhưng, hiện nay việc tự nguyện và áp buộc dường như vẫn nhập nhằng, rối mù. Tự nguyện chắc là Sở, là ông hiệu trưởng, chứ thử hỏi, thử thăm dò giáo viên, phụ huynh xem tự nguyện có chạm đến tỉ lệ %  hai con số không?

Sách giáo khoa lớp 1 Công Nghệ giáo dục

Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục vừa mới một trận cuồng phong dư luận mà chê nhiều hơn và áp đảo khen. Phó giáo tư, tiến sĩ La Khắc Hòa – Đại học Sư phạm Hà Nội nói về Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại thế này:  “CNGD của giáo sư Đại dựa vào một mô hình khoa học quá cũ, đã bị vượt qua. CNGD của giáo Đại dựa vào nhiều giả định nhầm lẫn. Thứ nhất, ông hình dung học trò như những trang giấy trắng, những cái bình “rỗng nghĩa” có thể vẽ lên đó nhiều thứ, đổ vào đó nhiều nghĩa theo ý của nhà giáo dục. Nói cách khác, ông hình dung đối tượng của CNGD là những CHỦ THỂ PHI KÍ ỨC…

Thứ hai, ông giả định muốn dạy học sinh lớp 1 nói và viết phải dạy chúng phân biệt “âm” và “từ”. Xin thưa, ngay từ khi đứa trẻ mới vài tháng tuổi, biết “hóng chuyện”, trong lúc trò chuyện với nó, tập cho nó nói, người lớn đã dạy nó những bài học giao tiếp đầu tiên. Cho nên, muốn phát triển năng lực nói và viết cho học trò, cần dạy chúng đọc thông viết thạo và CÁC THỂ LOẠI GIAO TIẾP LỜI NÓI. Tôi cho rằng phân biệt âm và từ là việc của nhà nghiên cứu chứ không phải là mục đích học tiếng Việt của những đứa trẻ có thể sau này làm bác sĩ thú y, hay kĩ sư nông nghiệp”.

Giáo sư tiến sĩ Trần Đình Sử ở Đại học Sư Phạm Hà Nội đưa ra một danh sách: Các nhà giáo dục công nghệ đối thoại Nga không nghiên cứu đánh vần. Ông còn nói rằng: “…Việc yêu cầu học sinh lớp 1 đi lại con đường của nhà ngữ học, phân biệt âm trước, rồi chữ viết có sau, tách âm dạy riêng, rồi mới dạy chữ viết, có cần phải dạy học sinh lớp 1 biết nguyên âm, phụ âm không… thì tôi không dám đồng tình, cho rằng quá tải. Các em lớp 1 cần phân biệt tên chữ cái và cách đọc chữ cái để biết đánh vần và viết đúng chính tả là đủ rồi, ngoài ra các việc khác để các em lớn rồi sẽ hay. Các thầy có tham vọng dạy cho học sinh lớp 1 tư duy khoa học, nhưng khốn nỗi, ngữ âm là khoa học chuyên sâu, chuyên ngành, không phải là khoa học thường thức”. Còn nhiều ý kiến khoa học khác rất đáng được xem xét. Còn riêng tôi thấy ngay ở các bài học tiếng Việt chọn cho học sinh lớp 1 cũng không hay, nhiều bài thô sơ, rất dễ dẫn đến hiểu sai lệch về đạo đức và hành vi trẻ nhỏ như các bài: Quả bứa, Xách đồ đỡ mẹ, Vẽ gì khó nhất,…vv. Tính chất độc quyền ở đây là thầy cô phải dạy đúng như sách, không có quyền sáng tạo gì. Người học cũng cứ nhất nhất tuân theo.

Tính chất độc quyền của ba bộ sách này không chỉ biên soạn chương trình, mà còn thể hiện ở khâu in ấn, phát hành, kinh doanh. Những con số giật mình, hốt hoảng, như doanh thu in sách giáo khoa hàng năm khoảng 1000 tỷ đồng. “Mức chi chiết khấu phát hành sách giáo khoa phổ thông khoảng 250 tỷ đồng mỗi năm (tương đương với 25%) là khá cao; sách thí điểm VNEN và Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục tăng đột biến; doanh thu khoảng 300 tỷ đồng”. Độc quyền đến mức “sách VNEN và tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục trong giai đoạn 2012-2017 không được bán trên thị trường mà được phân phối bởi các công ty con và công ty thành viên của NXB GDVN thông qua Sở GD-ĐT các tỉnh, thành phố, Phòng GD-ĐT huyện, thị xã, các trường tiểu học, THCS trên cơ sở rà soát nhu cầu sử dụng hàng năm”.

Sách giáo khoa gì mà năm nào cũng sửa, năm nào cũng in mới, bài tập in cùng sách giáo khoa, học xong rồi vứt. Đứa em không dùng lại được sách của anh chị, lãng phí vô cùng. Nước ta nghèo, phụ huynh học sinh phải thắt lưng buộc bụng cho con đi học. Gánh nặng năm nào cũng mua sách giáo, mà không mua không được, là một minh chứng hùng hồn nhất của độc quyền sách giáo khoa.

Một chương trình của nhà nước và nhiều bộ sách giáo khoa là một cách chống độc quyền biên soạn. Nhiều nhà xuất bản cùng tham gia cấp phép, in sách giáo khoa cũng là một biện pháp chống độc quyền trong giáo dục hiệu quả.

Bình luận

Bạn có thể quan tâm