Đẩy lùi bệnh dị ứng, mề đay từ loại cây được xem là “nam dược sâm”

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 4:52 28/04/2020 |

Từ xưa tới nay nhiều người đều biết cây đinh lăng được trồng làm cảnh, thức ăn hay thuốc trong y học cổ truyền vì có rất nhiều công dụng trị bệnh.

cây đinh lăng 2
Cây đinh lăng có nhiều công dụng trị bệnh

Nó có tên gọi khác là nam dược sâm (nhân sâm của người Việt) vì nhiều công dụng trị bệnh, trong đó phải kể đến khả năng chống dị ứng, nổi mề đay.

Thông thường cây đinh lăng chỉ cao từ 1-2 mét, lá kép, chẻ khía, mọc so le, lá chét có răng cưa nhọn. Nó có hoa màu lục nhạt hoặc trắng xám, quả dẹt, màu trắng bạc. Đinh lăng được dùng chủ yếu là phần lá và rễ. Lá được sử dụng quanh năm. Rễ của nó thường được thu hái vào mùa đông, ở những cây 5-10 tuổi trở lên. Sở dĩ thu hoạch tầm tuổi này thì rễ cây mới cho nhiều hoạt chất. Theo nguyên lý tự nhiên, những cây quá lâu năm có thể không còn tốt bởi các chất trong rễ cây đã bị lão hóa, không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng nữa.

Đinh lăng có tác dụng tăng cường sức dẻo dai của cơ thể tương tự như nhân sâm, tam thất và các cây khác cùng họ. Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm chữa bệnh nhiều, tôi thấy đinh lăng có khả năng làm mát gan, mát thận, tăng cường khí huyết, an thần, chữa mất ngủ, hen suyễn, đào thải độc tố rất tốt. Ngoài ra nó được phối hợp với các thảo dược khác trong quá trình điều trị liệt dương, di tinh, mộng tinh, chữa nóng sốt, viêm gan mãn tính, đau nhức chân tay do phong thấp, phụ nữ sau sinh bị tắc tia sữa.

Tôi thường dùng cây đinh lăng trong các bài thuốc điều trị viêm da, mề đay, mẩn ngứa. Nếu nhà bạn có đinh lăng mà đang gặp các tình trạng khó chịu về da thì có thể áp dụng bài thuốc sau:

Lấy khoảng 100g- 150g lá đinh lăng tươi, rửa sạch rồi nấu dùng với 200ml nước. Nấu cho đến khi nước sôi khoảng 5-7 phút thì chắt ra lấy nước đó uống. Tiếp tục đổ thêm 200ml nước vào nấu sôi lại để lấy nước thứ hai. Cách dùng lá tươi này khá thuận tiện, không tốn thời gian nấu, dễ uống và đảm bảo đủ liều lượng hoạt chất cần thiết.

Nếu không có đinh lăng tươi, có thể dùng lá đinh lăng khô. Khi đã phơi khô lá đinh lăng có tính kháng viêm khá mạnh. Người bị mề đay, mẩn ngứa do dị ứng có thể kết hợp uống nước lá đinh lăng khô và đắp lá tươi ngoài da để tăng hiệu quả. Cách thực hiện: Lấy 50g lá đinh lăng khô rửa sạch, để ráo nước. Cho lá vào nấu với 500ml nước. Tiếp tục đun cho đến khi hỗn hợp còn khoảng 250ml nước thì tắt bếp. Nên uống sau bữa ăn khi nước còn ấm. Áp dụng trong 10 ngày kết hợp đắp lá sẽ thấy có hiệu quả.

cây đinh lăng 1
Lá đinh lăng khi được phơi khô có tác dụng trị viêm khá tốt

Người Mường còn có thói quen, ấy là phụ nữ sau sinh hoặc người mới ốm dậy đang còn yếu sẽ được ăn một bát canh đinh lăng. Lá đinh lăng có thể nấu với thịt, cá để bồi bổ. Chỉ cần lấy khoảng 200g lá đinh lăng tươi và rửa sạch. Khi nước canh thịt, cá sôi thì cho đinh lăng vào đun vừa chín tới, ăn nóng. Loại canh này giúp cơ thể sảng khoái, đẩy độc tố ra ngoài. Chúng tôi cũng sử dụng rượu ngâm củ đinh lăng để bồi bổ sinh lực, tăng sức đề kháng, kích thích ăn ngon ngủ tốt, hỗ trợ bệnh liệt dương…

Đinh lăng nhiều tác dụng nhưng nó không chữa được bách bệnh như nhiều người đồn đoán. Khi sử dụng cần lưu ý, trong rễ đinh lăng có chứa nhiều saponin có tác dụng gần như nhân sâm, nhiều sinh tố B1. Tuy nhiên, do thành phần saponin có nhiều trong rễ đinh lăng, chất này có thể làm vỡ hồng cầu. Vì vậy, cần lưu ý khi sử dụng lá và rễ, nếu dùng quá liều sẽ gây ra hiện tượng say, kèm theo cảm giác mệt mỏi, choáng váng, nôn mửa, tiêu chảy.

Các bài thuốc chữa mề đay bằng lá đinh lăng chỉ có tác dụng cải thiện triệu chứng, không thể điều trị dứt điểm. Tức là bệnh có thể tái phát trong tương lai nếu tiếp xúc với chất gây dị ứng, lông thú, phấn hoa, ô nhiễm môi trường. Bởi vậy muốn khỏi bệnh cần sử dụng bài thuốc toàn diện có sự kết hợp của nhiều thảo dược. Không sử dụng bài thuốc này cho trường hợp nổi mề đay sau sinh, mề đay ở phụ nữ có thai hoặc trẻ em. Bên cạnh đó, người có bệnh lý về tim mạch và huyết áp cần trao đổi với thầy thuốc để đảm bảo an toàn và tránh các rủi ro không mong muốn.

Lương y Bùi Thị Trỉ

Bình luận

Bạn có thể quan tâm