Thực hư chuyện trái bần non có khả năng chữa ung thư vòm họng

Tuổi trẻ đời sống đăng lúc: 12:01 26/05/2020 |

Điều quan trọng người sử dụng nước trái bần non chữa bệnh ung thư vòm họng cần chú ý là trong thời gian điều trị chỉ được ăn cơm trắng với các loại rau luộc

tría bần non chữa ung thư 1
Trái bần trên cây

Từ chuyện cây bần làm thuốc, trái bần xuất ngoại…

Ở miền Tây Nam Bộ, cây bần là loài thực vật quen thuộc mọc hoang từ vùng duyên hải Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre đến ven bờ các con sông, rạch lớn nhỏ. Cây bần có tên khoa học Sonneratia caseolaris, là loài thủy sinh sống tốt trong môi trường nước ngọt và nước lợ, với phần gốc cắm chặt vào bãi bùn, phần thân gỗ cao 10-20 mét. Từ xưa, ngoài những cánh rừng bần mọc hoang nơi cửa sông, bãi bồi, cư dân miền Tây Nam Bộ còn sử dụng bần như một loài cây trồng để giữ đất, chống nạn sạt lở rất hiệu quả.

Không ai biết vì sao loài cây này có tên gọi đặc thù là bần, cái tên gợi lên nét quê mùa, nghèo khó. Nhưng cư dân vùng Bến Tre khẳng định, cây bần còn có một tên gọi rất đẹp là “thủy liễu”, tên do chính chúa Nguyễn Ánh, tức vua Gia Long đặt cho. Tên gọi này xuất phát từ một huyền tích trên sông Hàm Luông. Theo truyền thuyết, trước khi sang Xiêm cầu viện quân để đánh trận thủy chiến Rạch Gầm – Xoài Mút, đoàn quân của chúa Nguyễn Ánh nhiều lần bị nghĩa quân Tây Sơn truy đuổi khắp vùng sông nước Nam Bộ. Lần nọ, đoàn thuyền của chúa Nguyễn Ánh đi lạc vào một cù lao trên sông Hàm Luông lúc trời đã xế chiều.

Trong lúc lạc đường, chúa Nguyễn và đoàn tùy tùng tình cờ nhìn thấy một ngôi nhà thấp thoáng sau rừng cây xanh tốt ven sông, nên cho thuyền ghé vào. Chủ nhà là một vị chức sắc tại địa phương tên Trần Văn Hạc, thường gọi là ông cai Hạc. Khi được ông cai Hạc nghênh tiếp, chúa Nguyễn chỉ yêu cầu ông cai giúp cho chúa và tùy tùng bữa cơm đạm bạc vì phải đi gấp để tránh sự truy đuổi của quân Tây Sơn. Trong lúc bất ngờ, nhà xa chợ búa, không có cao lương mỹ vị, ông cai Hạc đành giỡ hũ mắm sống múc ra dĩa và chạy ra rừng cây mọc nơi bãi bồi tìm hái những trái chín, nấu cơm đãi chúa Nguyễn.

Do quá đói nên chúa Nguyễn và tùy tùng dùng trái chấm mắm, ăn rất ngon miệng, sạch nhẵn cơm. Ăn xong, chúa Nguyễn mới hỏi lai lịch của loại trái lạ. Nghe ông cai Hạc nói trái lạ có tên là bần và tận mắt thấy rừng cây bần xanh tốt đứng dầm chân trong nước, chúa Nguyễn Ánh truyền cho ông Hạc đổi tên cây bần quê mùa, nghèo khó thành thủy liễu. Theo giải thích của chúa Nguyễn thì hình dạng cây bần nhìn chẳng khác cây liễu trong thi phú đời xưa. Cây liễu trong thi ca mọc trên vùng đất cao ráo, còn cây bần mọc trên bãi bùn, quanh năm dầm chân trong nước mà vẫn tươi tốt, cành lá thướt tha yểu điệu như cây liễu, nên phải gọi là thủy liễu, loài liễu mọc trong nước. Từ đó cây bần còn có tên thủy liễu cho đến ngày nay.

tría bần non chữa ung thư 3
Trái bần khi được bổ ra

Theo nhiều bậc cao niên ở Bến Tre, vùng cù lao mà chúa Nguyễn Ánh ghé ăn cơm với mắm sống và trái bần chín, nhiều khả năng là cù lao Ốc, nay thuộc xã Hưng Phong (huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Nhưng huyền tích này ít người biết đến, nên lâu nay dân gian vẫn cứ quen gọi loài cây gắn bó với người nghèo vùng quê sông nước là cây bần.

Ông Út Tú, một người biết nhiều sự tích chúa Nguyễn ở miền Tây Nam Bộ, còn cho biết một chuyện thú vị: Trước đây, nhiều người thấy chữ “thủy liễu” quá hay, thơ mộng nên lấy đặt tên cho con gái cưng. Nhưng đến khi tìm hiểu kỹ mới biết Thủy Liễu chính là tên chữ của cây bần. Sợ tên vận vào người, con gái suốt đời nghèo khó như loài cây quanh năm đứng dầm chân trong nước, nên người ta đổi tên con từ Thủy Liễu sang Thúy Liễu, thành ra chẳng có ý nghĩa gì hết.

Theo thầy thuốc Đông y Lê Hoàng Cung (Tiền Giang), cây bần có hai loại là bần dĩa (trái hình tròn, dẹt như cái dĩa) và bần ổi (trái tròn như quả ổi), nhưng đều có vị chua, tính mát; lá bần rất chát. Tuy là loài thực vật quê mùa, nhưng từ lâu nhiều bộ phận của loài cây này đã được sử dụng làm thuốc trị bệnh, trái bần chín đã trở thành món đặc sản.

Ngoài việc ăn sống, làm gỏi, nấu canh chua, nhiều năm nay ở vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, trái bần chín được chế biến thành món nước cốt bần, bột bần đóng hộp bán khắp các siêu thị trong cả nước, thậm chí còn được xuất khẩu để giải tỏa nỗi “nhớ quê hương của Việt kiều”, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động từ việc đi thu hái trái chín làm nguyên liệu.

Trong Đông y, từ lâu, nhiều bộ phận của cây bần được sử dụng để làm thuốc. Cụ thể vỏ và lá cây bần được dùng để cầm máu, chữa các vết bầm tím; rễ bần (là phần nhô lên khỏi mặt nước) trị sỏi thận, thân và rễ dùng điều trị bệnh nhức mỏi; trái bần dùng chữa tiêu viêm, giải nhiệt, giảm đau, ngăn chặn xuất huyết; hoa bần giã nát vắt lấy nước làm thuốc trị chứng tiểu ra máu… rất công hiệu.

Trong Tây y, các nhà khoa học cho rằng các chất chiết xuất từ trái bần có tác dụng kháng khuẩn, chống oxy hóa, hạ đường huyết, bảo vệ gan, kháng viêm. Nhiều thông tin còn cho rằng, trong lá cây bần có chứa a-xít oleanolic là chất chống được tế bào ung thư biểu mô, ung thư phổi và ung thư vú, ngăn chặn sự phát triển của bệnh Alzheimer, có khả năng kháng HIV…

Tin đồn trái bần non chữa ung thư

Theo thầy thuốc Lê Hoàng Cung, việc sử dụng nhiều bộ phận của cây bần làm thuốc Đông y đã có chứng thực, nhưng việc sử dụng chất chiết xuất từ lá bần để trị ung thư, HIV… chỉ là tin đồn trên mạng xã hội. Đáng chú ý là thời gian gần đây có người còn cho rằng, trái bần non chữa trị được chứng ung thư vòm họng, khiến nhiều người xôn xao, không biết thực hư thế nào.

tría bần non chữa ung thư 4
Trái bần non còn bông hoặc mới rụng đài bông được đồn là chữa khỏi chứng ung thư vòm họng

“Đã có nhiều người hỏi tôi về chuyện này, nhưng tôi không dám trả lời vì chưa thể chứng minh được”, ông Cung nói. Theo ông Cung, bài thuốc chữa ung thư vòm họng từ trái bần non đang được lan truyền cụ thể gồm: Thu hái trái bần non còn phần bông trên cây (có người nói trái non mới rụng bông cũng được) đem về rửa sạch, dùng dao thái thật mỏng hoặc giã nát rồi cho vào cốc. Nấu nước sôi đổ vào, đậy kín trong thời gian từ 10 – 15 phút và uống khi còn nóng.

Người bệnh mỗi ngày cần phải uống từ 2 – 3 lít nước trái bần non, uống liên tục trong thời gian 3 tuần, mỗi ngày uống 3 lần vào buổi sáng, buổi chiều và trước khi đi ngủ. Điều quan trọng người sử dụng nước trái bần non chữa bệnh ung thư vòm họng cần chú ý là trong thời gian điều trị chỉ được ăn cơm trắng với các loại rau luộc, hạn chế đến mức thấp nhất, nếu có thể thì phải tuyệt đối kiêng kỵ các loại thịt, cá, dầu mỡ.

“Trong bài thuốc từ trái bần non, nam bệnh nhân sử dụng 7 trái, còn nữ bệnh nhân sử dụng 9 trái. Nhưng sử dụng 7 – 9 trái trong 1 cốc nước cho 1 lần uống, hay sử dụng liều lượng đó cho 2 – 3 lít nước uống trong ngày, điều này chưa được làm rõ”, ông Cung nói.

Theo ông Cung, từ khi có tin đồn trái bần non chữa được ung thư vòm họng và bài thuốc từ trái bần non lan truyền, bản thân ông đã bỏ công tìm kiếm xem có bệnh nhân nào từng được chữa khỏi bệnh từ bài thuốc này hay không, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được. “Ung thư là một căn bệnh nan y, đến nay Đông y và Tây y còn chưa có thuốc đặc trị. Trước đây, cũng có tin đồn trái dừa nước – loài cây thủy sinh sống được ở vùng bãi bồi ven sông nước ngọt, nước lợ như cây bần, trị được bệnh ung thư, nhưng cuối cùng đó chỉ là tin đồn thất thiệt, khiến nhiều người lâm cảnh tiền mất mà mạng cũng mất.

Tôi có biết vài trường hợp bị ung thư vòm họng, tốn rất nhiều tiền chạy chữa đủ thuốc Tây, thuốc Nam, trong đó có thời gian uống nước trái bần non, sử dụng trái dừa nước, nhưng cuối cùng vẫn không qua khỏi. Vì vậy, nếu nói bài thuốc từ trái bần non có thể giúp kiềm chế sự phát triển của tế bào ung thư, kéo dài sự sống cho bệnh nhân thêm một thời gian, thì sẽ thuyết phục mọi người hơn là khẳng định nó chữa khỏi”, ông Cung nhận định.

AN HÒA

Bình luận

Bạn có thể quan tâm